Điều 15. Xác minh tính xác thực giấy tờ công
1. Cơ quan cấp Apostille thực hiện xác minh tính xác thực của giấy tờ
công khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Chữ ký, con dấu, chức danh và thẩm quyền trên giấy tờ công chưa có
trong thông tin, dữ liệu về con dấu, chữ ký, chức danh và thẩm quyền
quy định tại Điều 23 Nghị định này hoặc chưa được giới thiệu chính thức tới
Bộ Ngoại giao;
b) Có căn cứ hợp lý nghi ngờ về tính xác thực của giấy tờ, bao gồm cả
trường hợp giấy tờ có dấu hiệu giả mạo, bị tẩy xóa hoặc sửa chữa trái phép;
c) Có thông tin, dấu hiệu hoặc phản ánh về việc giấy tờ công thuộc diện
không được phép đưa ra nước ngoài hoặc bị hạn chế sử dụng tại nước ngoài
theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
2. Khi hồ sơ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Cơ quan
cấp Apostille tạm dừng việc giải quyết đối với giấy tờ có nghi vấn, thông báo
cho người đề nghị về việc xác minh, nêu rõ lý do, thời gian dự kiến xác minh
và gửi văn bản đề nghị xác minh như sau:
a) Đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này:
gửi đến cơ quan, tổ chức đã cấp giấy tờ hoặc cơ quan quản lý nhà nước cấp trên
của cơ quan đó để xác nhận tính xác thực của giấy tờ, con dấu, chữ ký,
chức danh và thẩm quyền; không yêu cầu người đề nghị nộp thêm tài liệu;
b) Đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này: gửi đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý lĩnh vực liên quan để xác nhận
tình trạng lưu hành của giấy tờ.
3. Cơ quan được đề nghị xác minh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản
trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị; trường hợp
phức tạp, thời hạn không quá 10 ngày làm việc và phải thông báo lý do cho
cơ quan đã gửi đề nghị.
4. Ngay sau khi nhận được kết quả xác minh bằng văn bản, Cơ quan cấp
Apostille xử lý như sau:
a) Trường hợp kết quả xác nhận tính xác thực và giấy tờ đủ điều kiện lưu hành,
Cơ quan cấp Apostille cấp chứng nhận Apostille theo quy định tại Điều 16
Nghị định này;
b) Trường hợp kết quả xác nhận giấy tờ không xác thực, Cơ quan cấp
Apostille từ chối cấp chứng nhận Apostille và trả lại giấy tờ cho người đề nghị,
thông báo theo quy định tại Điều 18 Nghị định này; trường hợp giấy tờ có yếu tố
giả mạo hoặc được cấp bởi cơ quan, tổ chức không có thẩm quyền, Cơ quan cấp
Apostille từ chối cấp và thực hiện lưu giữ, chuyển hồ sơ theo quy định tại khoản 4
Điều 18 Nghị định này;
c) Trường hợp giấy tờ là xác thực nhưng thuộc diện không được phép
đưa ra nước ngoài hoặc bị hạn chế sử dụng tại nước ngoài theo quy định của
pháp luật chuyên ngành, Cơ quan cấp Apostille từ chối cấp chứng nhận
Apostille, thông báo theo quy định tại Điều 18 Nghị định này và chuyển hồ sơ
cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý lĩnh vực liên quan để xử lý theo
quy định của pháp luật chuyên ngành.
5. Trường hợp hết thời hạn xác minh mà không nhận được kết quả trả lời,
việc xử lý được thực hiện như sau:
a) Sau 15 ngày kể từ ngày gửi văn bản đề nghị xác minh mà chưa nhận
được trả lời, Cơ quan cấp Apostille có trách nhiệm đôn đốc cơ quan được đề nghị
xác minh;
b) Sau 30 ngày kể từ ngày gửi văn bản đề nghị xác minh mà không nhận
được kết quả trả lời, Cơ quan cấp Apostille thông báo bằng văn bản cho người
đề nghị về quá trình xác minh và trả lại hồ sơ kèm theo giấy tờ công;
c) Trường hợp nhận được kết quả xác minh sau thời hạn quy định tại điểm b
khoản này và hồ sơ đã được trả lại, Cơ quan cấp Apostille thông báo cho người
đề nghị để nộp lại hồ sơ theo quy định tại Điều 12 Nghị định này.