Để bảo đảm cho cơ quan Trọng Tài kinh tế các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trọng Tài kinh tế quy định ở Pháp lệnh Trọng tài kinh tế ngày 10 tháng 1 năm 1990, nay qui định tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế các cấp như sau:
Điều 1
Điều 1. Để bảo đảm cho cơ quan Trọng Tài kinh tế các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trọng Tài kinh tế quy định ở Pháp lệnh Trọng tài kinh tế ngày 10 tháng 1 năm 1990, nay qui định tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế các cấp như sau: A- Tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế Nhà nước gồm có: 1. Vụ xét xử. 2. Vụ Giám sát và xét kháng cáo. 3. Vụ pháp luật. 4. Thanh tra Trọng tài kinh tế Nhà nước. 5. Vụ Tổ chức cán bộ. 6. Văn phòng. 7. Trường cán bộ trọng tài kinh tế (làm nhiệm vụ bồi dưỡng cán bộ). Các tổ chức khác do Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước quyết định sau khi thoả thuận với Ban Tổ chức - cán bộ của Chính phủ. Nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế của các tổ chức nói trên do Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước quyết định theo tổng biên chế được Hội đồng Bộ trưởng giao. B- Tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế tỉnh do Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh căn cứ vào khối lượng công việc và biên chế được giao mà quyết định thành lập các phòng hay tổ để chuyên trách các mặt công tác: giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế; xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế; giám sát và xét kháng cáo, tổng hợp, hành chính quản trị. C- Tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế huyện được thành lập ở những huyện, quận và cấp tương đương có sản xuất hàng hoá phát triển có nhiều tranh chấp hợp đồng kinh tế do Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước sau khi thống nhất với Trưởng ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ, quy định cụ thể những huyện, quận và cấp tương đương được thành lập tổ chức Trọng tài kinh tế.