Lời mở đầu
BỘ TÀI CHÍNH _____________ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - tự do - hạnh phúc -------------------------- Số : 25 TC/TQD Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 1981 THÔNG TƯ Hướng dẫn cách tính toán và nộp các khoản thu quốc doanh, thu chênh lệch tạm thời về lương và khấu hao ___________________________ Giá bán buôn mới của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng công bố cho thi hành từ 1/10/1981 đã làm cho nhiều yếu tố trong giá thành, trong lợi nhuận xí nghiệp tăng lên, đồng thời do giá bán lẻ đã xác định trước nên các khoản thu nộp cho ngân sách, trong đó có cả mức thu quốc doanh, ở mỗi xí nghiệp đều có sự thay đổi quan trọng. Để mức thu phù hợp với giá mới, Bộ Tài chính yêu cầu các Bộ, Tổng cục, các Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu chỉ đạo các xí nghiệp trực thuộc, căn cứ vào giá xí nghiệp, giá bán buôn công nghiệp mới xác định lại mức thu nộp ngân sách Nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1981. Dưới đây, xin hướng dẫn một số điểm cụ thể có liên quan đến thu chi tài chính xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp công tư hợp doanh và thu chi Ngân sách Nhà nước. I. XÁC ĐỊNH CÁC MỨC THU QUỐC DOANH, THU CHÊNH LỆCH TẠM THỜI VỀ LƯƠNG VÀ KHẤU HAO: Để xác định được các mức thu, cần xác định rõ giá thành, lãi định mức, giá xí nghiệp và giá bán buôn công nghiệp. 1/ Xác định giá thành mớ i phải thực hiện theo chỉ thị số 153-CT ngày 13/9/1981 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và các Thông tư số 04-VGNN-KHCS ngày 23/7/1981 và số 327-VGNN/THBB ngày 27/8/81 của Uỷ ban Vật giá Nhà nước hướng dẫn việc tính toán giá xí nghiệp và giá bán buôn công nghiệp của xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, trong đó cần lưu ý: a) Về tiền lương công nhân: Theo sự hướng dẫn của Uỷ ban Vật giá Nhà nước thì xí nghiệp được tính lương trong giá bán buôn công nghiệp tăng gấp 4 lần so với mức lương trước đây, nhưng xí nghiệp chỉ được hạch toán vào giá thành hai lần để trả lương và phụ cấp tạm thời cho cán bộ công nhân viên xí nghiệp, còn hai lần khác thuộc phần chi giá hàng cung cấp cho cán bộ, công nhân viên do Ngân sách Nhà nước thu và bù, nên hai lần lương này xí nghiệp phải nộp vào Ngân sách Nhà nước dưới hình thức chênh lệch về lương tạm thời do chưa hạch toán đầy đủ vào giá thành (gọi tắt là chênh lệch lương tạm thời) để Nhà nước làm nguồn vốn bù giá hàng cung cấp cho cán bộ, công nhân viên. b) Về khấu hao tài sản cố định: Đối với tài sản cố định tính theo giá hiện hành và chưa đánh giá lại thì mức khấu hao chung (bao gồm khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn) tính gấp 5 lần hiện nay và số tài sản cố định mới nhận trong những năm gần đây đã tính theo giá mới theo tỷ giá mới thì tính gấp 3 lần để làm giá bán buôn công nghiệp mới. Do chưa đánh giá lại tài sản cố định nên mức khấu hao chung tăng từ 3 đến 5 lần tính trong giá bán buôn công nghiệp, nhưng trong giá thành thực tế chỉ có thể hạch toán theo mức khấu hao hiện hành (1 lần). Do đó, mức chênh lệch từ 2 đến 4 lần về khấu hao được trích nộp vào Ngân sách Nhà nước dưới hình thức chênh lệhc khấu hao chưa hạch toán đầy đủ vào giá thành (gọi tắt là chênh lệch khấu hao tạm thời). Đối với những xí nghiệp vay vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Ngân hàng Nhà nước thì mức khấu hao trích trả nợ ngân hàng hàng năm là mức khấu hao hiện hành và đã được quyết định trong hợp đồng vay vốn. 2/ Xác định lãi định mức dành cho xí nghiệp: Về tỷ lệ lãi định mức dành cho dành cho xí nghiệp thì áp dụng thông tư số 05-TC ngày 30/3/1978 của Bộ Tài chính, được Uỷ ban Vật giá Nhà nước nhắc lại trong thông tư 327-VGNN. Tỷ lệ lãi định mức nói trên được tính trên giá thành mới (cao hơn giá thành cũ) nên về tỷ lệ thì không tăng nhưng lợi nhuận tuyệt đối sẽ tăng nhiều so với mức lợi nhuận tuyệt đối đầu so với mức lợi nhuận tuyệt đối cũ, cho nên cần kế hoạch hoá và thực hiện phân phối lợi nhuận một cách chặt chẽ. Các khoảng chênh lệch lương, chênh lệch khấu hao tạm thời chưa hạch toán đầy đủ vào giá thành nên được tính vào giá xí nghiệp ngoài định mức lợi nhuận. Như vậy khi xác định giá xí nghiệp, phải tách riêng hai khoản thu chênh lệch tạm thời về lương và khấu hao đã hạch toán và trích nộp vào ngân sách.