quy định rõ việc miễn, tạm miễn và tạm hoãn đi dân công. Chúng tôi xin giải thích thêm:
Điều 2
Điều 2. quy định rõ việc miễn, tạm miễn và tạm hoãn đi dân công. Chúng tôi xin giải thích thêm: Định ra nghĩa vụ dân công là để động viên lực lượng của nhân dân tham gia thực hiện kế hoạch của Nhà nước. Nhưng không thể vì huy động dân công cho một ngành nào mà làm trở ngại đến sự thực hiện kế hoạch sản xuất của các ngành khác; cũng không thể để ảnh hưởng đến sự hoạt động của bộ máy Nhà nước. Đồng thời trong lúc huy động đi dân công, cũng cần bảo đảm thực hiện các chính sách của Chính phủ, chiếu cố đến hoàn cảnh sinh hoạt hoặc tập quán của một số người. Ngược lại, cũng không thể miễn, hoãn quá nhiều mà phải tăng số ngày làm nghĩa vụ của nhân dân để bảo đảm hoàn thành công tác. Vì vậy, nguyên tắc của việc miễn, hoãn đi dân công là: Đối với cán bộ bán thoát ly ở xã, thị trấn thì: chỉ miễn cho những cán bộ không thể vắng mặt, và không thể có người khác thay phụ trách công tác ở địa phương. Đối với nhân dân: Chỉ miễn hoặc hoãn cho những người đang bận việc thực hiện kế hoạch sản xuất của Nhà nước, những người có bệnh không thể làm được công việc ở công trường và chiếu cố cho một số người đã thoát ly sản xuất để đi công tác, nay trở về sản xuất, để có thì giờ xây dựng được cơ sở sản xuất. Dưới đây xin giải thích một số điều cụ thể: Về miễn, tạm miễn khác tạm hoãn : Ví dụ về tạm miễn: Một người trong 6 tháng đầu năm được tạm miễn, thì 6 tháng cuối năm chỉ còn phải đi phục vụ 15 ngày. Ví dụ về tạm hoãn: Được tạm hoãn trong thời gian 4 tháng, 6 tháng, 8 tháng v.v...nhưng khi hết thời gian tạm hoãn đó, vẫn phải đi đủ 30 ngày dân công. Về những cán bộ, nhân viên thoát ly sản xuất đang công tác trong các cơ quan của các đoàn thể cũng được miễn đi dân công. Về trường tư: Chỉ những trường đã được cơ quan Giáo dục cấp giấy phép cho mở trường. Về người tàn tật hoặc có bệnh kinh niên, không thể làm được việc nặng, được miẽn đi dân công căn cứ vào sự nhận xét của nhân dân hay sự chứng nhận của một bệnh viện cuả Nhà nước. Việc tạm hoãn cho những người đang trực tiếp làm những công việc nói trên là để bảo đảm thực hiện kế hoạch Nhà nước. Vì vậy, không phải cứ ký hợp đồng là được tạm hoãn, hoặc cứ đi đánh cá là được tạm hoãn mà tuỳ theo yêu cầu của mỗi kế hoạch trong từng thời gian, Uỷ ban hành chính tỉnh sẽ quyết định việc tạm hoãn đi dân công cho từng nghề, ở từng vùng cần thiết để bảo đảm thực hiện kế hoạch Nhà nước. Việc miễn đi dân công cho công nhân các Xí nghiệp tư nhân: Xí nghiệp tư nhân nói trong Điều 2 của điều lệ là những cơ sở sản xuất có một trong ba điều kiện sau đây: 1- Thường xuyên sản xuất theo kế hoạch của Mậu dịch, phần lớn sản phẩm làm ra bán cho Mậu dịch. 2- Xưởng cơ khí có từ 7 công nhân trở lên, xưởng thủ công có từ 20 công nhân trở lên. 3- Công nhân làm trong các loại vận tải như ca-nô, tàu thuỷ, ô tô. Thi hành điều quy định về tạm hoãn đi dân công, chỉ kể là công nhân, những người thường xuyên làm công ăn lương cho xí nghiệp, mà không được kể là công nhân, những người làm việc phụ động mà xí nghiệp mướn làm từng công việc cụ thể trong một thời gian ngắn: những người lĩnh việc của xí nghiệp về nhà làm theo lối gia công. Trường hợp người chủ cũng trực tiếp sản xuất như công nhân thì cũng được miễn như một công nhân. Nghĩa vụ dân công là nghĩa vụ của mọi người, vì vậy chủ xí nghiệp không phải trả lương những ngày công nhân đi dân công. Việc huy động cán bộ xã, thị trấn, dân quân du kích và công an xã, thị trấn đi dân công: Khi huy động cán bộ xã, khu phố đi cân công, Uỷ ban hành chính xã, thị trấn, khu phố cần có kế hoạch phân phối để không tập trung cán bộ đi hết vào một đợt, không huy động tất cả cán bộ trong một ngành, một giới đi vào một đợt mà nên huy động luân phiên để lúc nào cũng có người bảo đảm công tác của ngành, của giới đó. Khi huy động cán bộ xã, thị trấn đi dân công thì phân công một số vào ban chỉ huy trung, đại đội để làm nhiệm vụ lãnh đạo, còn bao nhiêu cán bộ khác cũng tham gia sản xuất như dân công. Đối với dân quân du kích và công an xã cũng cần huy động luân phiên để lúc nào cũng có người làm công việc trị an trong thôn, xã. Xét tình hình trị an của mỗi vùng, Uỷ ban hành chính tỉnh có thể định tỷ lệ động viên công an, du kích ở mỗi vùng đi dân công trong mỗi đợt. Việc nhờ người đi thay: Trường hợp người có nghĩa vụ đi dân công, vì một lý do nào đó không thể đi được, thì có thể nhờ người khác đi thay. Người đi thay phải là người có đủ điều kiện sức khoẻ để làm tròn nhiệm vụ trên công trường. Số ngày công phục vụ có thể ghi cho người có nhiệm vụ đi dân công trong đợt đó hoặc ghi cho người đi thay, do hai bên thoả thuận. CHƯƠNG II CỦA ĐIỀU LỆ NHỮNG VIỆC ĐƯỢC SỬ DỤNG DÂN CÔNG Những việc làm không coi là đi dân công: Điềm 1 của Điều 3: sau khi quy định quyền được huy động dân công để làm những công việc thuộc về khảo sát, xây dựng những công trình mới hoặc sửa chữa những công trình bị hư hỏng lớn về thuỷ lợi, có nói: "Không coi là đi dân công, những người làm những công tác ở địa phương như : chống lụt, chống hạn, chống bão, chống úng thuỷ ; những việc thuộc về bảo vệ, sửa chữa thường xuyên những quãng đê, những nông giang, những việc về tiểu thuỷ nông trong phạm vi một xã. Mỗi khi xét cần thiết làm những công việc này thì chính quyền và các đoàn thể địa phương động viên nhân dân tự nguyện ra làm". Chúng tôi xin giải thích thêm như sau: Những công tác về chống lụt, chống hạn, chống bão, chống úng thuỷ: bao gồm cả những công tác về phòng lụt, phòng hạn, phòng bão, phòng úng thuỷ. Những việc thuộc về bảo vệ, sửa chữa thường xuyên những quãng đê : bao gồm cả đê muối, đê bao quanh thành phố. Những ngày mà những người làm các công việc đó, không được tính vào 30 ngày nghĩa vụ đi dân công và không thi hành bản điều lệ dân công đối với các công việc ấy. Quy định như vậy là vì những công việc này là những việc để bảo vệ sản xuất của từng địa phương, nhân dân phải tự đảm đương lấy, dưới sự tổ chức và hướng dẫn của các cơ quan chính quyền và đoàn thể. Cũng trong điểm 1 của Điều 3 đã nói: "Khi cần tu sửa những đê bao quanh thành phố, thì huy động nhân dân thành phố ra làm. Nếu lực lượng nhân dân thành phố không đủ thì huy động thêm dân công ở các xã lân cận đến làm". Như vậy là nhân dân nội thành làm công việc tu sửa đê bao quanh thành phố không được coi là đi dân công. Nhưng nếu lực lượng nhân dân thành phố không đủ, phải huy động người ở ngoài phạm vi bảo vệ của con đê đó (người ở ngoại thành, người ở những xã lân cận thuộc tỉnh khác) thì những người này được coi là đi dân công. Điềm 2 của Điều 3 quy định được huy động dân công để làm "công tác về giao thông gồm có: làm mới và tu sửa các đường giao thông liên huyện, hàng tỉnh, liên tỉnh và đường quốc lộ. Công việc sửa chữa những đường giao thông bị mưa, bão hay nước lũ làm sụt, lở, cắt đứt". Chúng tôi xin giải thích thêm như sau: Đường giao thông nói trong điều lệ là nói đường bộ, bao gồm việc làm đường và làm cầu. Công việc sửa chữa những đường giao thông bị mưa, bão hay nước lũ làm sụt, lở, cắt đứt bao gồm cả đường sắt khi gặp trường hợp này. Cuối Điều 3 nói: "Đối với miền núi, ngoài những công việc quy định chung trên đây, có thể được huy động dân công để làm thêm các việc như sau : công tác tiểu thuỷ nông, làm mới và tu sửa các đường giao thông, liên xã và hàng huyện hoặc châu ; công tác khảo sát cầu đường ; giúp việc khai vét lòng sông để tiện việc giao thông đường thuỷ ; làm công tác xây dựng trường học, bệnh viện, chợ và nhà cửa của cơ quan Nhà nước từ cấp huyện hoặc châu trở lên, trong trường hợp không thuê mượn được nhân công". Tuy vậy không phải vì được huy động để làm thêm một số công việc đó mà nhân dân miền núi rất ít công việc về thuỷ lợi là những việc dùng nhiều dân công. CHƯƠNG III CỦA ĐIỀU LỆ NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI ĐI DÂN CÔNG Số ngày nghĩa vụ hàng năm: