Điều 4
Điều 4.- 1/ Thủ tướng Chính phủ xét, quyết định nhập cảnh đối với các đoàn khách của Nhà nước (cả thành viên và tuỳ tùng); khách là đại diện của Chính phủ nước ngoài, của Tổ chức Liên hợp quốc có chức vụ từ cấp Bộ trưởng, Tỉnh trưởng hoặc cấp tương đương trở lên vào làm việc, thăm viếng, hội họp, tham quan khảo sát, trao đổi kinh nghiệm, chữa bệnh...theo lời mời của các cấp tương đương của Việt Nam; 2/ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thông báo cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực cho các đối tượng sau đây sau khi đã thông báo các yếu tố về nhân sự với Bộ Nội vụ: Viên chức, nhân viên các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài và cơ quan đại diện các tổ chức quốc tế, tổ chức liên chính phủ (bao gồm cả những người trong gia đình và người phục vụ riêng cùng đi, cùng sống với họ); Những người nước ngoài do Chính phủ nước họ hoặc tổ chức quốc tế, tổ chức liên Chính phủ cử hoặc giới thiệu (qua đường ngoại giao) vào làm việc với cơ quan đại diện hoặc vào thăm thân nhân là viên chức, nhân viên cơ quan đại diện của họ tại Việt Nam; Những trường hợp khẩn cấp do yêu cầu đối ngoại và nhân đạo; 3/ Việc mời khách nước ngoài vào làm việc với các cơ quan của Đảng, đoàn thể nhân dân cấp Trung ương thực hiện theo quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng; 4/ Thủ tục giải quyết nhập cảnh đối với khách thuộc diện quy định tại Điều này như sau: a) Khi có quyết định của cấp có thẩm quyền nói tại các khoản 1, 2, 3 trên đây, cơ quan hoặc tổ chức được giao nhiệm vụ đón và bố trí chương trình hoạt động của khách có trách nhiệm thông báo danh sách nhân sự cho Bộ Nội vụ để theo dõi; b) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài chịu trách nhiệm làm các thủ tục đối ngoại và cấp thị thực (nếu cần) khi nhận điện báo của Bộ Ngoại giao; c) Bộ Nội vụ không làm thủ tục cấp phép nhập cảnh đối với những khách quy định tại Điều này, nếu phát hiện nhân sự thuộc đối tượng không được nhập cảnh Việt Nam thì Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Ngoại giao từ chối việc nhập cảnh.