Điều 9. Chính phủ có chương trình công tác năm, 6 tháng, 3 tháng và hàng tháng.
Chương trình năm do Chính phủ thảo luận và quyết định. Căn cứ vào chương trình năm, Thủ tướng xác định chương trình 6 tháng, 3 tháng và từng tháng.
Trong chương trình công tác, phải ghi rõ những việc do Chính phủ thảo luận quyết định, những việc do Thủ tướng quyết định. Đối với từng vấn đề có đề án hoặc dự thảo văn bản để thảo luận quyết định, phải ghi rõ yêu cầu, phạm vi cần giải quyết, chỉ định cơ quan chủ trì chuẩn bị, cơ quan tham gia chuẩn bị, cơ quan thẩm tra đề án và thời hạn hoàn thành từng đề án (hoặc dự thảo văn bản).
Trình tự lập chương trình công tác của Chính phủ được quy định như sau:
Điều 10. Trình tự lập chương trình công tác của Chính phủ được quy định như sau:
- Tuần đầu tháng 11, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trình Chính phủ những vấn đề cần đưa vào chương trình công tác năm sau.
- Giữa tháng 11, theo sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và căn cứ vào kiến nghị của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ dự thảo chương trình công tác năm sau gửi cho các thành viên Chính phủ. Chậm nhất là 7 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo chương trình, các thành viên của Chính phủ có trách nhiệm xem xét và báo cáo cho Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ những vấn đề cần thay đổi, bổ sung. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hoàn chỉnh dự thảo và trình Chính phủ thông qua tại phiên họp đầu tháng 12.
- Chương trình quý phải được gửi đến các thành viên Chính phủ chậm nhất là ngày 25 tháng thứ 3 của quý trước. Chương trình tháng phải được gửi đến các thành viên Chính phủ chậm nhất là ngày 25 của tháng trước.
- Khi Thủ tướng quyết định thay đổi chương trình, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ phải thông báo ngay cho các thành viên Chính phủ và các cơ quan có liên quan biết.
II- CHUẨN BỊ ĐỀ ÁN TRÌNH CHÍNH PHỦ
Đề án hoặc dự thảo văn bản (sau đây gọi chung là đề án) trình Chính phủ và Thủ tướng thuộc ngành, lĩnh vực nào thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan phụ trách ngành, lĩnh vực đó làm chủ đề án (sau đây gọi là cơ quan chủ trì đề án) và phải chịu trách nhiệm bảo đảm nội dung, thể thức hành chính và thời hạ
Điều 11. Đề án hoặc dự thảo văn bản (sau đây gọi chung là đề án) trình Chính phủ và Thủ tướng thuộc ngành, lĩnh vực nào thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan phụ trách ngành, lĩnh vực đó làm chủ đề án (sau đây gọi là cơ quan chủ trì đề án) và phải chịu trách nhiệm bảo đảm nội dung, thể thức hành chính và thời hạn trình.
Đối với những đề án quan trọng có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực hoặc có nội dung phức tạp, thì Thủ tướng Chính phủ chỉ định một Tiểu ban để chuẩn bị.
Theo sự phân công chuẩn bị các đề án đã được ghi trong chương trình, cơ quan chủ trì đề án lập kế hoạch chuẩn bị từng đề án theo đúng yêu cầu, phạm vi giải quyết vấn đề trong đề án và bảo đảm thời hạn trình đề án đã được Chính phủ ấn định.
Điều 12. Theo sự phân công chuẩn bị các đề án đã được ghi trong chương trình, cơ quan chủ trì đề án lập kế hoạch chuẩn bị từng đề án theo đúng yêu cầu, phạm vi giải quyết vấn đề trong đề án và bảo đảm thời hạn trình đề án đã được Chính phủ ấn định.
Nếu cơ quan chủ trì đề án muốn thay đổi yêu cầu, phạm vi giải quyết vấn đề hoặc thời hạn trình đề án thì phải được sự đồng ý của Thủ tướng, hoặc Phó Thủ tướng được uỷ nhiệm phụ trách lĩnh vực.
Trong quá trình chuẩn bị đề án, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì đề án có quyền:
Điều 13. Trong quá trình chuẩn bị đề án, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì đề án có quyền:
1. Mời các Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan có liên quan đến bàn việc chuẩn bị đề án hoặc cử cán bộ tham gia xây dựng đề án. Các cơ quan được mời có trách nhiệm cử người tham gia theo yêu cầu của cơ quan chủ trì đề án.
2. Gửi dự thảo đề án đến các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh có liên quan để lấy ý kiến. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan được hỏi ý kiến có trách nhiệm phát biểu ý kiến chính thức của mình bằng văn bản trong thời hạn do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì đề án đề nghị. Thời hạn này phải đủ cho việc nghiên cứu, góp ý kiến. Sau thời hạn đó, nếu cơ quan được hỏi ý kiến không trả lời, thì coi như đồng ý và phải chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành mình.
Tờ trình của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì đề án cần phải ghi rõ những ý kiến của các Bộ trưởng có liên quan.
3. Mời họp để thảo luận và lấy ý kiến về dự thảo đề án; Bộ trưởng chủ trì đề án phải gửi tài liệu cho các cơ quan được mời ít nhất 5 ngày trước ngày họp. Nếu là đề án có nhiều nội dung quan trọng, thì thời hạn ít nhất là 10 ngày trước ngày họp. Cơ quan được mời họp phải cử đại diện có đủ thẩm quyền đến họp.
Bộ trưởng chủ trì đề án chịu trách nhiệm tổ chức và chủ trì cuộc thảo luận, giới thiệu nội dung và thu thập ý kiến để bổ sung hoàn chỉnh đề án, những ý kiến thảo luận phải được ghi vào biên bản, có chữ ký của người chủ toạ hội nghị.
Điều 14. Hồ sơ của một đề án trình Chính phủ gồm có:
1. Tờ trình của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì đề án. Tờ trình phải ngắn gọn, không quá 5 trang đánh máy, thuyết minh rõ:
- Tóm tắt nội dung chính của đề án (hoặc dự thảo văn bản). Phải nêu đầy đủ luận cứ của các kiến nghị, những vấn đề chưa được nhất trí.
- Văn bản của cơ quan thẩm định đề án (nếu có).
Kèm theo tờ trình là những văn bản phát biểu của Thủ trưởng các cơ quan có liên quan, của Hội đồng khoa học hoặc Hội đồng tư vấn (nếu có).
2. Dự thảo văn bản sẽ ban hành, và dự thảo văn bản hướng dẫn thực hiện văn bản ấy.
3. Kế hoạch tổ chức thực hiện khi văn bản được ban hành.
Chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận được đề án, Văn phòng Chính phủ phải thẩm tra xong đề án:
Điều 15. Chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận được đề án, Văn phòng Chính phủ phải thẩm tra xong đề án:
1. Nếu đề án được chuẩn bị theo đúng yêu cầu, phạm vi quy định và đúng thủ tục, thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định trình Chính phủ.
2. Nếu đề án chuẩn bị không đúng yêu cầu, phạm vi hoặc chưa đúng thủ tục quy định ở điều 13 và điều 14 trên đây, thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ yêu cầu cơ quan chủ trì đề án chuẩn bị thêm. Nếu Bộ trưởng chủ trì đề án không nhất trí, thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng quyết định.
Tuỳ tính chất của đề án, Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng thay mặt Thủ tướng:
Điều 16. Tuỳ tính chất của đề án, Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng thay mặt Thủ tướng:
1. Trực tiếp nghe Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì đề án hoặc các cơ quan nghiên cứu phát biểu về đề án hoặc dự thảo văn bản sẽ trình Chính phủ, nhằm tìm hiểu căn cứ bảo đảm cho hội nghị Chính phủ có thể quyết định được chính xác.
2. Nếu xét thấy cần thiết, chủ trì họp với các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan đang có ý kiến khác nhau để trao đổi giải quyết các điểm chưa nhất trí hoặc làm rõ các quan điểm khác nhau, tạo điều kiện để hội nghị Chính phủ có thể thảo luận và thông qua.
Chậm nhất là 7 ngày, trước ngày họp Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ phải trình Thủ tướng hồ sơ đề án. Nếu thấy việc chuẩn bị chưa đạt yêu cầu thì Thủ tướng quyết định hoãn đưa ra phiên họp Chính phủ để chuẩn bị thêm.
Điều 17. Chậm nhất là 7 ngày, trước ngày họp Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ phải trình Thủ tướng hồ sơ đề án. Nếu thấy việc chuẩn bị chưa đạt yêu cầu thì Thủ tướng quyết định hoãn đưa ra phiên họp Chính phủ để chuẩn bị thêm.
III- PHIÊN HỌP CUẢ CHÍNH PHỦ
Phiên họp thường lệ gồm toàn thể các thành viên Chính phủ mỗi tháng một lần vào những ngày cuối tháng. Thủ tướng triệu tập phiên họp bất thường theo quyết định của mình hoặc theo yêu cầu của 1/3 tổng số thành viên Chính phủ.
Điều 18. Phiên họp thường lệ gồm toàn thể các thành viên Chính phủ mỗi tháng một lần vào những ngày cuối tháng. Thủ tướng triệu tập phiên họp bất thường theo quyết định của mình hoặc theo yêu cầu của 1/3 tổng số thành viên Chính phủ.
Ngày họp và chương trình làm việc của phiên họp do Thủ tướng Chính phủ ấn định.
Chương trình làm việc của phiên họp, hồ sơ đề án và dự thảo Nghị quyết, Nghị định sẽ thông qua tại phiên họp phải gửi đến thành viên Chính phủ trước khi họp ít nhất là 5 ngày, trừ trường hợp họp bất thường.
Phiên họp của Chính phủ hợp lệ khi có mặt ít nhất 2/3 tổng số thành viên của Chính phủ.
Điều 19. Phiên họp của Chính phủ hợp lệ khi có mặt ít nhất 2/3 tổng số thành viên của Chính phủ.
Các thành viên Chính phủ phải tham dự đầy đủ phiên họp Chính phủ và phải ngồi đúng chỗ quy định, nếu vắng mặt phiên họp hoặc vắng mặt một số thời gian của phiên họp, thì phải được Thủ tướng đồng ý. Thủ tướng có thể cho phép thành viên vắng mặt được uỷ nhiệm một người trong số cấp phó của mình đến họp. Người phó dự họp thay, nếu phát biểu, thì bài phát biểu không được trái với ý kiến của người đã uỷ nhiệm. Trường hợp muốn phát biểu ý kiến khác, thì phải được người chủ toạ phiên họp Chính phủ đồng ý.
Thủ tướng Chính phủ mời Chủ tịch nước tham dự các phiên họp của Chính phủ.
Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự phiên họp Chính phủ khi thảo luận những vấn đề có liên quan.
Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được mời dự phiên họp Chính phủ khi cần thiết.
Những người tham dự phiên họp không phải là thành viên Chính phủ được phát biểu ý kiến, nhưng không có quyền biểu quyết.
Phiên họp Chính phủ do Thủ tướng chủ toạ, khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được uỷ nhiệm chủ toạ.
Điều 20. Phiên họp Chính phủ do Thủ tướng chủ toạ, khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được uỷ nhiệm chủ toạ.
Phiên họp Chính phủ làm việc theo trình tự như sau:
1. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo số thành viên Chính phủ có mặt và những người vắng mặt, những người dự họp thay, những người được mời tham dự (nếu có).
2. Chủ toạ phiên họp giới thiệu chương trình và cách làm việc của phiên họp, xác định thứ tự thảo luận và quyết định từng đề án (nếu hội nghị có nhiều đề án).
3. Trong phiên họp, Chính phủ thảo luận từng đề án (dự thảo văn bản) theo trình tự dưới đây:
a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì đề án trình bày ngắn gọn những vấn đề cần xin ý kiến trong dự thảo nghị quyết, nghị định. Thời gian trình bày tối đa không quá 40 phút. Nếu vấn đề cần xin ý kiến đã được thuyết minh rõ trong tờ trình, thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì đề án có thể không trình bày thêm.
b) Các thành viên Chính phủ phát biểu ý kiến, nói rõ tán thành hay không tán thành điểm nào trong dự thảo nghị quyết, nghị định v.v... Bản phát biểu này gửi lại Văn phòng Chính phủ để lưu hồ sơ Nhà nước. Thời gian mỗi lần phát biểu tối đa không quá 15 phút.
c) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì đề án phát biểu ý kiến cuối cùng của mình về những điểm chưa nhất trí.
d) Chủ toạ phiên họp kết luận và lấy biểu quyết bằng hình thức giơ tay. Nếu số phiếu ngang nhau, thì theo phía có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp Thủ tướng thấy thảo luận chưa đủ rõ, thì có quyền yêu cầu Chính phủ chưa quyết định.
4. Sau khi đã thảo luận và quyết định đối với từng vấn đề ghi trong chương trình phiên họp, chủ toạ phiên họp phát biểu kết thúc phiên họp Chính phủ.
Đối với một số vấn đề nội dung không phức tạp, không cần thiết phải thảo luận tại phiên họp Chính phủ, thì theo chỉ thị của Thủ tướng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ gửi dự thảo văn bản để lấy ý kiến từng thành viên. Nếu được đa số thành viên tán thành, thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng C
Điều 21. Đối với một số vấn đề nội dung không phức tạp, không cần thiết phải thảo luận tại phiên họp Chính phủ, thì theo chỉ thị của Thủ tướng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ gửi dự thảo văn bản để lấy ý kiến từng thành viên. Nếu được đa số thành viên tán thành, thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng ký và báo cáo cho các thành viên Chính phủ biết.
Biên bản phiên họp Chính phủ phải ghi đầy đủ nội dung, ý kiến phát biểu và diễn biến của phiên họp, ý kiến kết luận của chủ toạ và kết quả biểu quyết. Biên bản này do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ký và lưu vào hồ sơ Nhà nước và được bảo quản theo chế độ mật.
Điều 22. Biên bản phiên họp Chính phủ phải ghi đầy đủ nội dung, ý kiến phát biểu và diễn biến của phiên họp, ý kiến kết luận của chủ toạ và kết quả biểu quyết. Biên bản này do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ký và lưu vào hồ sơ Nhà nước và được bảo quản theo chế độ mật.
Khi được phép của Thủ tướng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ gửi các bản trích sao biên bản cho các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Sau mỗi phiên họp, Chính phủ thông báo qua phương tiện thông tin đại chúng cho nhân dân biết các nội dung chính của phiên họp Chính phủ, trừ các nội dung bí mật quốc gia.
Điều 23. Sau mỗi phiên họp, Chính phủ thông báo qua phương tiện thông tin đại chúng cho nhân dân biết các nội dung chính của phiên họp Chính phủ, trừ các nội dung bí mật quốc gia.
IV- QUY ĐỊNH VỀ GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC CUẢ THỦ TƯỚNG
Thủ tướng Chính phủ xét, giải quyết các công việc theo trình tự sau:
Điều 24. Thủ tướng Chính phủ xét, giải quyết các công việc theo trình tự sau:
1. Các vấn đề do Thủ tướng Chính phủ xét, giải quyết đều phải được đăng ký trước và đưa vào lịch giải quyết việc của Thủ tướng, trừ vấn đề nảy sinh nói ở điểm 3 điều này, phải theo đúng thủ tục quy định khi trình.
2. Những đề án trình Thủ tướng giải quyết thuộc về chủ trương, chính sách phải được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chủ trì đề án chuẩn bị theo quy định như đối với các vấn đề do Chính phủ quyết định nói ở mục II của chương II bản quy chế này.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm, căn cứ vào tính chất của đề án, định thời gian chuẩn bị, định thời gian trình Thủ tướng xét giải quyết. Trong khi xem xét, Thủ tướng có thể mời Thủ trưởng cơ quan có liên quan để tham khảo ý kiến.
3. Đối với vấn đề cụ thể nảy sinh thuộc thẩm quyền Thủ tướng giải quyết, trong thời hạn tối đa là 2 ngày, kể từ ngày văn bản đăng ký tại Văn phòng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ phải trình Thủ tướng (Phó Thủ tướng) giải quyết. Nếu là vấn đề cần gấp, thì phải trình ngay sau khi nhận được.
Nếu văn bản đề nghị chưa có ý kiến Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan, thì sau khi trả lại hoặc sau khi yêu cầu cơ quan có đề nghị để chuẩn bị thêm, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ cũng phải báo cáo với Thủ tướng (Phó Thủ tướng) biết trong thời hạn không quá 2 ngày.
V- BAN HÀNH VÀ CÔNG BỐ CÁC VĂN BẢN CUẢ CÍNH PHỦ
Chậm nhất là 5 ngày, sau phiên họp Chính phủ, hoặc sau khi Thủ tướng đã xét, giải quyết các đề án ở điểm 2 điều 24 trên đây, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chỉnh lý dự thảo văn bản trình Thủ tướng ký ban hành.
Điều 25. Chậm nhất là 5 ngày, sau phiên họp Chính phủ, hoặc sau khi Thủ tướng đã xét, giải quyết các đề án ở điểm 2 điều 24 trên đây, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chỉnh lý dự thảo văn bản trình Thủ tướng ký ban hành.
Các văn bản của Bộ hướng dẫn thi hành Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ phải được chuẩn bị cùng lúc với dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ và phải ban hành trong thời hạn chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày ban hành văn bản của Chính phủ, của Thủ tướng. Trường hợp các Bộ phải hợp đồng với nhau để ra văn bản hướng dẫn, thì thời hạn chậm nhất cũng không được quá 20 ngày, kể từ ngày ban hành văn bản của Chính phủ hoặc của Thủ tướng.
Văn bản để giải quyết các vấn đề cụ thể nảy sinh nói ở điểm 3 điều 24 trên đây phải được ban hành sau 2 ngày kể từ ngày Thủ tướng (Phó Thủ tướng) có ý kiến giải quyết. Nếu là vấn đề cần gấp thì phải ban hành ngay.
Các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ và các quyết định, chỉ thị của Thủ tướng về những chủ trương, chính sách quan trọng về tổ chức bộ máy và nhân sự các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đều do Thủ tướng ký.
Điều 26. Các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ và các quyết định, chỉ thị của Thủ tướng về những chủ trương, chính sách quan trọng về tổ chức bộ máy và nhân sự các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đều do Thủ tướng ký.
Phó Thủ tướng được phân công thường trực được uỷ nhiệm ký thay Thủ tướng một số văn bản thuộc thẩm quyền của Thủ tướng và thay Thủ tướng ký các văn bản của Chính phủ khi Thủ tướng vắng mặt.
Phó Thủ tướng phụ trách các lĩnh vực công tác được Thủ tướng uỷ nhiệm ký một số quyết định, chỉ thị của Thủ tướng để chỉ đạo các công tác cụ thể, đôn đốc, hướng dẫn thi hành các quyết định của Chính phủ và Thủ tướng ký các văn bản để xử lý các vấn đề cụ thể nảy sinh thuộc thẩm quyền của Thủ tướng giải quyết.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ký văn bản thừa lệnh Thủ tướng giải quyết những công việc cụ thể không thuộc phạm vi phụ trách của các Phó Thủ tướng phụ trách lĩnh vực và thông báo các quyết định của Thủ tướng để các cơ quan có liên quan thực hiện.
Các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng, các quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ đều phải đăng trong Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ các văn bản có nội dung bí mật quốc gia. Thời hạ
Điều 27. Các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng, các quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ đều phải đăng trong Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ các văn bản có nội dung bí mật quốc gia. Thời hạn gửi đăng Công báo phải cùng với thời gian văn bản được ban hành. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hướng dẫn cụ thể việc đăng Công báo.
VI- TIẾP KHÁCH NƯỚC NGOÀI, HỘI HỌP, ĐI CÔNG TÁC
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ muốn mời Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng tiếp khách nước ngoài thì phải trao đổi trước với Văn phòng Chính phủ; trường hợp khách là quan chức nước ngoài, thì còn phải thoả thuận trước với Bộ Ngoại giao.
Điều 28. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ muốn mời Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng tiếp khách nước ngoài thì phải trao đổi trước với Văn phòng Chính phủ; trường hợp khách là quan chức nước ngoài, thì còn phải thoả thuận trước với Bộ Ngoại giao.
Trong thời gian họp Quốc hội; họp Chính phủ, các thành viên Chính phủ không được bố trí đi công tác nước ngoài, đi địa phương xa Thủ đô. Trường hợp thật cần đi phải báo cáo và được Thủ tướng đồng ý và phải thông báo cho Văn phòng Chính phủ biết địa chỉ nơi đến công tác.
Điều 29. Trong thời gian họp Quốc hội; họp Chính phủ, các thành viên Chính phủ không được bố trí đi công tác nước ngoài, đi địa phương xa Thủ đô. Trường hợp thật cần đi phải báo cáo và được Thủ tướng đồng ý và phải thông báo cho Văn phòng Chính phủ biết địa chỉ nơi đến công tác.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ muốn mở hội nghị tổng kết công tác (hàng năm hoặc một số năm) trong cả nước hoặc các hội nghị, có mời lãnh đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thì phải được Thủ tướng đồng ý tr
Điều 30. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ muốn mở hội nghị tổng kết công tác (hàng năm hoặc một số năm) trong cả nước hoặc các hội nghị, có mời lãnh đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thì phải được Thủ tướng đồng ý trước về nội dung, thành phần và thời gian họp.
Sáu tháng một lần, Thủ tướng (Phó Thủ tướng) họp với lãnh đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; ít nhất mỗi năm một lần, Thủ tướng họp với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để kiểm điểm việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Chính phủ đã ban hành, hướ
Điều 31. Sáu tháng một lần, Thủ tướng (Phó Thủ tướng) họp với lãnh đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; ít nhất mỗi năm một lần, Thủ tướng họp với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để kiểm điểm việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Chính phủ đã ban hành, hướng dẫn việc tổ chức thi hành các chủ trương, chính sách mới.
VI- THÔNG TIN BÁO CÁO
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện đầy đủ chế độ thông tin và báo cáo với Thủ tướng.
Điều 32. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện đầy đủ chế độ thông tin và báo cáo với Thủ tướng.
Nội dung và thời hạn gửi các thông tin, báo cáo do Thủ tướng quy định.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đích thân xem xét, ký gửi Thủ tướng những báo cáo đánh giá công tác của Bộ hoặc Uỷ ban nhân dân địa phương, những văn bản kiến nghị chủ trương chính sách với Thủ tướng và Chính phủ.
Khi có vấn đề đột xuất xảy ra trong ngành, địa phương, phải báo cáo ngay với Thủ tướng bằng phương tiện nhanh nhất.
Văn phòng Chính phủ gửi cho các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, mỗi tháng một lần báo cáo, thông báo về hoạt động của Chính phủ, các quyết định quan trọng của Chính phủ, và Thủ tướng. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ định kỳ thông báo cho Tổng biên tập các báo,
Điều 33. Văn phòng Chính phủ gửi cho các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, mỗi tháng một lần báo cáo, thông báo về hoạt động của Chính phủ, các quyết định quan trọng của Chính phủ, và Thủ tướng. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ định kỳ thông báo cho Tổng biên tập các báo, đài ở trung ương nội dung các quyết định quan trọng của Chính phủ và của Thủ tướng Chính phủ.
VIII- THANH TRA, KIỂM TRA VÀ GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra các ngành, các cấp thực hiện các quyết định của Chính phủ về ngành, lĩnh vực mình phụ trách; trực tiếp giải quyết và chỉ đạo cơ quan thuộc quyền xét và giải quyết các kiến nghị khiếu nại, tố cáo của c
Điều 34. Các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra các ngành, các cấp thực hiện các quyết định của Chính phủ về ngành, lĩnh vực mình phụ trách; trực tiếp giải quyết và chỉ đạo cơ quan thuộc quyền xét và giải quyết các kiến nghị khiếu nại, tố cáo của công dân và của cán bộ, nhân viên.
Tổng thanh tra Nhà nước trực tiếp chỉ đạo Thanh tra có trọng điểm và hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Uỷ ban nhân dân địa phương tiến hành công tác thanh tra và công tác giải quyết các kiến nghị khiếu tố, thuộc trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan hành chính.
Điều 35. Tổng thanh tra Nhà nước trực tiếp chỉ đạo Thanh tra có trọng điểm và hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Uỷ ban nhân dân địa phương tiến hành công tác thanh tra và công tác giải quyết các kiến nghị khiếu tố, thuộc trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan hành chính.
Tổng Thanh tra Nhà nước chịu trách nhiệm tiếp nhận xem xét giải quyết hoặc báo cáo Thủ tướng giải quyết những đơn từ, khiều tố gửi đến Thủ tướng.
Chương 3:
ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG