Đã lưuĐăng ký
Hết hiệu lực

Nghị định Quy định việc thi hành Pháp lệnh về Đê điều CHƯƠNG III — BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG ĐÊ ĐIỀU

Điều 5–Điều 10 · 6 điều

Xem văn bản gốc ↗

1. Thẩm quyền cấp giấy phép cho các hoạt động có liên quan tới an toàn của đê và khả năng thoát lũ của lòng sông ghi ở điều 15 của Pháp lệnh về đê điều quy định như sau:

Điều 5

Tab mới ↗

Điều 5. 1. Thẩm quyền cấp giấy phép cho các hoạt động có liên quan tới an toàn của đê và khả năng thoát lũ của lòng sông ghi ở điều 15 của Pháp lệnh về đê điều quy định như sau: a/ Bộ Thuỷ lợi duyệt cấp giấy cho phép các hoạt động và xây dựng có liên quan tới an toàn đối với đê từ cấp III đến cấp đặc biệt và việc thoát lũ của lòng sông có ảnh hưởng từ 2 tỉnh trở lên. b/ Uỷ ban Nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương duyệt, cấp giấy cho phép các hoạt động và xây dựng có liên quan tới an toàn đối với đê dưới cấp III và việc thoát lũ của lòng sông chỉ ảnh hưởng tới địa phương mình. 2. Ngoài phạm vi bảo vệ đê điều đã ghi ở điều 3 của Nghị định này, muốn tiến hành khoan đào, khai thác tài nguyên khoáng sản, vật liệu xây dựng, khoan đào giếng nước, nạo vét luồng lạch... thì cứ đào sâu xuống 1m phải cách xa phạm vi bảo vệ đê điều thêm 10m. Trường hợp đặc biệt không theo quy định trên phải có biện pháp gia cố bảo đảm an toàn đê được Bộ Thuỷ lợi duyệt.

Các hoạt động giao thông liên quan tới an toàn của đê điều ghi ở điều 16, quy định như sau:

Điều 6

Tab mới ↗

Điều 6. Các hoạt động giao thông liên quan tới an toàn của đê điều ghi ở điều 16, quy định như sau: 1. Ngành giao thông và chủ các phương tiện giao thông được phép kết hợp sử dụng mặt đê, cơ đê vào mục đích giao thông đường bộ và sử dụng sông ngòi và vùng biển ven đê vào mục đích giao thông thuỷ nhưng không được gây mất an toàn cho đê điều hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thoát lũ của sông. 2. Bảo đảm an toàn cho đê điều phải được ưu tiên hàng đầu trong việc xét giải quyết các mối quan hệ giữa đê điều, thoát lũ với các hoạt động giao thông thuỷ, bộ. Bộ Thuỷ lợi và Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành.

Việc xây dựng và sử dụng các công trình không thuộc phạm vi bảo vệ đê điều nhưng có liên quan tới an toàn của đê điều như các hồ chứa nước vừa và lớn, các công trình tạo luồng lạch, các cảng sông và cảng biển ở vùng có đê, các loại cầu qua sông phải có sự thỏa thuận của Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi ở giai

Điều 7

Tab mới ↗

Điều 7. Việc xây dựng và sử dụng các công trình không thuộc phạm vi bảo vệ đê điều nhưng có liên quan tới an toàn của đê điều như các hồ chứa nước vừa và lớn, các công trình tạo luồng lạch, các cảng sông và cảng biển ở vùng có đê, các loại cầu qua sông phải có sự thỏa thuận của Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi ở giai đoạn duyệt Luận chứng kinh tế-kỹ thuật và duyệt quy trình vận hành công trình.

Bộ Thuỷ lợi phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Tổng cục quản lý ruộng đất có trách nhiệm hướng dẫn việc sử dụng đất trong phạm vi bảo vệ đê điều phù hợp với Luật đất đai và Pháp Lệnh về đê điều.

Điều 8

Tab mới ↗

Điều 8. Bộ Thuỷ lợi phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Tổng cục quản lý ruộng đất có trách nhiệm hướng dẫn việc sử dụng đất trong phạm vi bảo vệ đê điều phù hợp với Luật đất đai và Pháp Lệnh về đê điều.

Uỷ ban Nhân dân các tỉnh và đơn vị hành chính tương đương chịu trách nhiệm xử lý đối với nhà cửa và các công trình khác đã xây dựng có ảnh hưởng đến việc bảo vệ đê điều theo những nguyên tắc sau đây:

Điều 9

Tab mới ↗

Điều 9. Uỷ ban Nhân dân các tỉnh và đơn vị hành chính tương đương chịu trách nhiệm xử lý đối với nhà cửa và các công trình khác đã xây dựng có ảnh hưởng đến việc bảo vệ đê điều theo những nguyên tắc sau đây: 1. Toàn bộ nhà cửa và các công trình khác hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều dù xây dựng trước hoặc sau ngày ban hành điều lệ bảo vệ đê điều 21-11-1963 đều phải được xem xét, xử lý. 2. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng đến an toàn của đê điều để định ra biện pháp xử lý thích hợp. Việc xử lý nhà cửa và các công trình khác chia thành 3 loại: Loại gây mất ổn định nghiêm trọng cho đê điều thì nhất thiết phải phá bỏ và phải gia cố, tu bổ lại đê điều. Loại có ảnh hưởng tới an toàn của đê điều nhưng chưa nghiêm trọng thì di chuyển dần hoặc có biện pháp hạn chế sự ảnh hưởng đến an toàn của đê điều. Loại ít ảnh hưởng đến an toàn của đê điều có thể tiếp tục cho sử dụng nhưng phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt trong việc bảo vệ đê điều. 3. Về chính sách hỗ trợ: Loại nhà cửa và công trình xây dựng từ trước khi ban hành Điều lệ bảo vệ đê điều năm 1963 được Nhà nước xét hỗ trợ một phần kinh phí cho việc di chuyển và được chính quyền địa phương ưu tiên bố trí đất ở hoặc mặt bằng xây dựng ở khu vực ngoài phạm vi bảo vệ đê điều. Loại nhà cửa và công trình đã xây dựng từ khi đã có Điều lệ bảo vệ đê điều chỉ được xem xét bố trí mặt bằng nơi sẽ di chuyển đến. Riêng các gia đình thuộc đối tượng chính sách, chính quyền địa phương cần có sự hỗ trợ để các gia đình này có điều kiện di chuyển đi nơi khác. 4. Việc thống kê, phân loại, xử lý đối với nhà cửa và các công trình khác xây dựng trong phạm vi bảo vệ đê điều phải được tiến hành nghiêm túc, chu đáo, từng bước vững chắc. Riêng các trường hợp ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn của đê điều nhất thiết phải xử lý ngay.

Bộ Thuỷ lợi có nhiệm vụ phối hợp với Uỷ ban Nhân dân các tỉnh và đơn vị hành chính tương đương xác định mức độ ảnh hưởng đến an toàn đê điều của nhà cửa và các công trình khác hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều như khoản 2, điều 9 đã quy định; cùng các ngành hữu quan nghiên cứu trình Hội đồng Bộ t

Điều 10

Tab mới ↗

Điều 10. Bộ Thuỷ lợi có nhiệm vụ phối hợp với Uỷ ban Nhân dân các tỉnh và đơn vị hành chính tương đương xác định mức độ ảnh hưởng đến an toàn đê điều của nhà cửa và các công trình khác hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều như khoản 2, điều 9 đã quy định; cùng các ngành hữu quan nghiên cứu trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành chế độ, chính sách hỗ trợ theo nguyên tắc nêu ở khoản 3 điều 9. CHƯƠNG IV HỘ ĐÊ

Về toàn văn Nghị định Quy định việc thi hành Pháp lệnh về Đê điều

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp