Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, tổ hợp tác xã sản xuất thuỷ sản, dưới đây gọi chung là hợp tác xã thuỷ sản là tổ chức kinh tế tập thể của những người làm nghề khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ thuỷ sản, tự nguyện cùng góp vốn, sức lao động và kỹ thuật để sản xuất kinh doanh theo pháp luật và s
Điều 1. - Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, tổ hợp tác xã sản xuất thuỷ sản, dưới đây gọi chung là hợp tác xã thuỷ sản là tổ chức kinh tế tập thể của những người làm nghề khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ thuỷ sản, tự nguyện cùng góp vốn, sức lao động và kỹ thuật để sản xuất kinh doanh theo pháp luật và sự hướng dẫn, giúp đỡ của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng.
Mục đích của hợp tác xã là phát huy thế mạnh của kinh tế tập thể, không ngừng mở rộng đầu tư trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, phân công lao động theo hướng chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm phát triển mạnh mẽ nghề khai thác, nuôi trồng thuỷ sản để khai thác các thế mạnh về nguồn lợi thuỷ sản, nhất là thế mạnh của vùng biển, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho xã viên, làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước, xây dựng miền biển Việt Nam xã hội chủ nghĩa giầu đẹp, văn minh.
Tổ chức, quy mô và hình thức sở hữu tư liệu sản xuất của hợp tác xã thuỷ sản:
Điều 2. - Tổ chức, quy mô và hình thức sở hữu tư liệu sản xuất của hợp tác xã thuỷ sản:
1. Hợp tác xã sản xuất kinh doanh chuyên về khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ thuỷ sản hoặc hợp tác xã sản xuất kinh doanh tổng hợp, kết hợp nghề cá với nông, lâm, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp... gắn với việc tổ chức chuyên môn hoá thích hợp theo điều kiện cụ thể của từng vùng, từng hợp tác xã.
2. Hợp tác xã có quy mô lớn, vừa và nhỏ là tuỳ theo yêu cầu phát triển sản xuất và ngành nghề, trình độ quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật. Trước mắt khuyến khích tổ chức những hợp tác xã có quy mô vừa và nhỏ.
3. Về hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, có sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và mức độ tập thể hoá tư liệu sản xuất khác nhau (trừ tư liệu sản xuất cơ bản như diện tích mặt nước, đất...).
Hợp tác xã tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý công khai, dân chủ, hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc tự quản, phương hướng, nhiệm vụ, quy mô sản xuất kinh doanh, hình thức tổ chức quản lý sản xuất sản xuất kinh doanh và phân phối trong nội bộ, đều do các thành viên của hợp t
Điều 3. - Hợp tác xã tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý công khai, dân chủ, hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc tự quản, phương hướng, nhiệm vụ, quy mô sản xuất kinh doanh, hình thức tổ chức quản lý sản xuất sản xuất kinh doanh và phân phối trong nội bộ, đều do các thành viên của hợp tác xã quyết định theo nguyên tắc bảo đảm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, và giải quyết đúng mối quan hệ giữa lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích xã viên, trong đó lấy lợi ích xã viên làm động lực trực tiếp.
Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, có quyền bình đẳng trước pháp luật với các đơn vị kinh tế khác, được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu tài sản và thu nhập hợp pháp của hợp tác xã và của mọi thành viên.
Điều 4. - Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, có quyền bình đẳng trước pháp luật với các đơn vị kinh tế khác, được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu tài sản và thu nhập hợp pháp của hợp tác xã và của mọi thành viên.
Hợp tác xã được sử dụng con dấu riêng.
Chương 2:
XÃ VIÊN