Điều 8: Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, điều tra tất cả các tội phạm quy định tại các chương từ Chương II đến Chương X Phần "Các tội phạm" của Bộ luật hình sự, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân, cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và những trường hợp do cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tiến hành điều tra. Đối với các tội phạm quy định các điều 94, 95, 96 và 97 của Bộ luật hình sự, việc phân công trách nhiệm điều tra giữa các cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân và Lực lượng An ninh nhân dân do Bộ trưởng Bộ nội vụ quyết định.
Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân.
Điều 9: Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân.
Cục điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân điều tra các tội phạm quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh này, khi thấy cần trực tiếp điều tra.
Phòng điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân cấp tỉnh điều tra các tội phạm quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh này, khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh và các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra cấp dưới, nhưng xét thấy cần trực tiếp tiến hành điều tra.
Đội điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân cấp huyện điều tra các tội phạm quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh này, khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện.
Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan khác của Lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Điều 10: Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan khác của Lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Các cục Cảnh sát trực tiếp đấu tranh chống tội phạm kinh tế và các tội xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; các phòng Cảnh sát trực tiếp đấu tranh chống tội phạm kinh tế và các tội xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, ban giám thị trại tạm giam ở cấp tỉnh và trại giam, trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh này đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, lấy lời khai, khám xét, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; khi xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành vi phạm tội chạy trốn, tiêu huỷ chứng cứ hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm thì tạm giữ ngay người đó và xin ngay lệnh bắt khẩn cấp của cơ quan có thẩm quyền; trong thời hạn 6 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát nhân dân.
Mục B: CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ CÁC CƠ QUAN KHÁC CỦA LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN ĐƯỢC GIAO NHIỆM VỤ TIẾN HÀNH MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA.
Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Lực lượng An ninh nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Điều 11: Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Lực lượng An ninh nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Lực lượng An ninh nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền điều tra:
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hoà bình chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương I và Chương XII Phần "Các tội phạm" của Bộ luật hình sự, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân. Đối với những tội phạm quy định tại các điều 94, 95, 96 và 97 của Bộ luật hình sự thì việc phân công trách nhiệm điều tra giữa các cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân và Lực lượng An ninh nhân dân do Bộ trưởng Bộ nội vụ quyết định.
b) Các tội phạm mà người thực hiện là cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân.
Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của cơ quan điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân.
Điều 12: Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của cơ quan điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân.
Cục điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân điều tra các tội phạm quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này, khi thấy cần trực tiếp điều tra.
Phòng điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân cấp tỉnh điều tra các tội phạm quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này, trừ những tội phạm quy định tại Chương XII Phần "Các tội phạm" của Bộ luật hình sự và những tội phạm do Cục điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân trực tiếp điều tra.
Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan khác trong Lực lượng An ninh nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Điều 13: Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan khác trong Lực lượng An ninh nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Các cục của Lực lượng An ninh nhân dân và các phòng của Lực lượng An ninh nhân dân cấp tỉnh trực tiếp đấu tranh chống các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; lấy lời khai, khám xét, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; khi xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành vi phạm tội chạy trốn, tiêu huỷ chứng cứ hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm thì tạm giữ ngay người đó và xin ngay lệnh bắt khẩn cấp của cơ qua có thẩm quyền; trong thời hạn 6 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền của Lực lượng An ninh nhân dân.
Đội an ninh ở cấp huyện trong khi làm niệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội xâm phạm an ninh quốc gia thì tiến hành ngay việc truy bắt người có hành vi phạm tội chạy trốn; lấy lời khai, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, và báo ngay cho Phòng điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân cấp tỉnh.
Mục C: CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN.
Điều 14: Tổ chức cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.
Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân gồm có:
Cục điều tra hình sự ở Bộ quốc phòng, Phòng điều tra hình sự ở Tổng cục, Quân khu, Quân chủng, Binh chủng và cấp tương đương, Ban điều tra hình sự ở Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và cấp tương đương; Cục an ninh quân đội ở Bộ quốc phòng và Phòng an ninh quân đội ở Tổng cục, Quân khu, Quân chủng, Binh chủng và cấp tương đương.
Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.
Điều 15: Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.
Các cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân căn cứ vào thẩm quyền xét xử của các Toà án quân sự, tiến hành điều tra các tội phạm quy định tại các chương từ Chương II đến Chương XII Phần "Các tội phạm" của Bộ luật hình sự, trừ những trường hợp do cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự, Cục An ninh quân đội, Phòng an ninh quân đội và cơ quan điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân điều tra.
Cục An ninh quân đội và các Phòng An ninh quân đội căn cứ vào thẩm quyền xét xử của các Toà án quân sự, tiến hành điều tra các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương I, Chương XII và các tội phạm quy định tại các điều 256, 257, 262, 263 và 269 của Bộ luật hình sự, trừ các tội phạm mà người thực hiện là cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân.
Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Điều 16: Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Khi phát hiện những hành vi phạm tội quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh này, xảy ra trong khu vực đóng quân của đơn vị, thì Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp Trung đoàn, Lữ đoàn có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra: lập biên bản phạm tội quả tang, lấy lời khai, thu giữ bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, trong những trường hợp quy định tại Điều 63 của Bộ luật tố tụng hình sự thì có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp, khám xét; chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Mục D: CƠ QUAN ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Mục D — CƠ QUAN ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Tổ chức cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự.
Điều 17: Tổ chức cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự.
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân gồm có: Cục điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Phòng điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Phòng điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự trung ương và Ban điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự ở Tổng cục, Quân khu, Quân chủng và cấp tương đương.
Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.
Điều 18: Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.
1- Cục điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Phòng điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh điều tra trong những trường hợp sau đây, khi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân xét thấy cần thiết:
a) Khi phát hiện trong hoạt động điều tra có những hành vi phạm pháp luật nghiêm trọng;
b) Khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát hiện những vụ phạm tội rõ ràng mà xét thấy không cần thiết phải chuyển cho cơ quan điều tra khác;
c) Khi phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể giao cho cơ quan điều tra của Viện kiểm sát điều tra trong những trường hợp khác.
2- Phòng điều tra của Viện kiểm sát quân sự trung ương, Ban điều tra của Viện kiểm sát quân sự ở Tổng cục, Quân khu, Quân chủng và cấp tương đương điều tra những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, nếu vụ án đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự.
Chương 3:
QUAN HỆ PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA