Đã lưuĐăng ký
Hết hiệu lực

Thông tư Quy định về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông Chương II — QUY ĐỊNH VỀ TIẾP CÔNG DÂN

Điều 3–Điều 6 · 4 điều

Xem văn bản gốc ↗

Trách nhiệm tiếp công dân

Điều 3

Điều 3. Trách nhiệm tiếp công dân 1. Bộ trưởng bố trí lịch tiếp công dân, tuỳ theo yêu cầu của công việc để bố trí số lần tiếp công dân trong tháng. Bộ trưởng có thể uỷ quyền cho Thứ trưởng tiếp công dân nhưng ít nhất mỗi quý Bộ trưởng phải bố trí thời gian để trực tiếp tiếp công dân 01 ngày. 2. Văn phòng Bộ có trách nhiệm: a) Bố trí phòng tiếp công dân, trang thiết bị cần thiết phục vụ công tác tiếp công dân tại trụ sở cơ quan Bộ (18 Nguyễn Du, Hà Nội); chỉ dẫn, tiếp đón công dân theo quy định; b) Thông báo cho Thanh tra Bộ để cử cán bộ tiếp công dân khi có công dân đến khiếu nại, tố cáo; c) Trường hợp công dân đến yêu cầu được Lãnh đạo Bộ tiếp, thì bố trí lịch để Lãnh đạo Bộ tiếp công dân; thông báo cho đơn vị chức năng có liên quan và Thanh tra Bộ cử cán bộ cùng tham gia tiếp công dân với Lãnh đạo Bộ. 3. Thanh tra Bộ có trách nhiệm: a) Bố trí cán bộ có đủ năng lực tiếp công dân. Việc tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; b) Yêu cầu thủ trưởng các đơn vị có liên quan cử cán bộ cùng tham gia tiếp công dân tại phòng tiếp công dân khi cần thiết; c) Hướng dẫn, trả lời việc khiếu nại, tố cáo của công dân; d) Chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan chuẩn bị hồ sơ, tài liệu để Lãnh đạo Bộ tiếp công dân. 4. Trách nhiệm của Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ (trừ các Vụ chức năng): a) Bố trí nơi tiếp công dân tại trụ sở làm việc của đơn vị theo đúng quy định; b) Bố trí tiếp công dân ít nhất một tháng một lần; c) Cử cán bộ có đủ năng lực làm đầu mối thường xuyên tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo tại trụ sở của đơn vị; theo dõi, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo; d) Cử cán bộ tham gia tiếp công dân khi có yêu cầu của Văn phòng Bộ hoặc Thanh tra Bộ. 5. Trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ tiếp công dân: a) Cán bộ tiếp công dân khi làm nhiệm vụ phải đeo thẻ và chuẩn bị đầy đủ điều kiện, phương tiện làm việc; kiểm tra giấy tờ tùy thân của công dân (chứng minh thư, giấy giới thiệu, giấy ủy quyền,… theo quy định của pháp luật); hướng dẫn công dân trình bày đầy đủ, rõ ràng những nội dung khiếu nại, tố cáo và cung cấp những tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo; lập giấy biên nhận đơn, hồ sơ, tài liệu mà công dân cung cấp thành hai bản, giao cho công dân một bản và một bản lưu hồ sơ giải quyết; b) Cán bộ tiếp công dân phải báo cáo đầy đủ, chính xác, kịp thời với Thủ trưởng trực tiếp của mình về các nội dung liên quan đến khiếu nại, tố cáo của công dân; giải quyết những vướng mắc khi tiếp công dân; c) Cán bộ tiếp công dân chỉ được tiếp công dân tại nơi quy định tiếp công dân của cơ quan, đơn vị mình; d) Cán bộ tiếp công dân không được gây phiền hà, sách nhiễu hoặc cản trở, trì hoãn việc khiếu nại, tố cáo của công dân; không được tiết lộ những thông tin, tài liệu, bút tích của người tố cáo; đ) Cán bộ tiếp công dân có quyền từ chối tiếp những người đang trong tình trạng quá khích, say rượu, tâm thần và những người vi phạm nội quy nơi tiếp công dân; e) Trường hợp công dân lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để xúc phạm, vu cáo, đe dọa, lăng mạ, làm mất trật tự nơi tiếp công dân thì cán bộ tiếp công dân có quyền yêu cầu cơ quan Công an phụ trách địa bàn có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

Địa điểm tiếp công dân

Điều 4

Điều 4. Địa điểm tiếp công dân 1. Địa điểm tiếp công dân phải được bố trí tại nơi thuận tiện, đảm bảo điều kiện và phương tiện cần thiết để công dân đến trình bày khiếu nại, tố cáo được dễ dàng, thuận lợi. 2. Địa điểm tiếp công dân phải được bố trí sạch sẽ, nghiêm trang; có biển ghi “Phòng tiếp công dân”; phải niêm yết cụ thể ngày, giờ làm việc và nội quy tiếp công dân theo phụ lục 1 kèm theo Thông tư này.

Xử lý khiếu nại, tố cáo tại nơi tiếp công dân

Điều 5

Điều 5. Xử lý khiếu nại, tố cáo tại nơi tiếp công dân 1. Việc xử lý khiếu nại, tố cáo tại nơi tiếp công dân được thực hiện theo quy định tại Điều 49 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo. 2. Căn cứ vào mức độ phức tạp của vụ việc và trách nhiệm giải quyết của các bộ phận chuyên môn trong cơ quan, cán bộ tiếp công dân lập phiếu hẹn với công dân, đồng thời ghi vào sổ tiếp công dân để theo dõi. Cán bộ tiếp công dân phải ghi đầy đủ nội dung và các vấn đề có liên quan đến quá trình tiếp công dân vào sổ tiếp công dân. Sau khi tiếp công dân, cán bộ tiếp công dân phải báo cáo với Thủ trưởng đơn vị để tiếp tục xử lý khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định. 3. Trường hợp công dân đề nghị được gặp Bộ trưởng, Thủ trưởng đơn vị, thì cán bộ tiếp công dân ghi lại nội dung đề nghị. Báo cáo với Bộ trưởng, Thủ trưởng đơn vị xin ý kiến chỉ đạo để ghi phiếu hẹn ngày, giờ tiếp, chuẩn bị hồ sơ liên quan và đồng thời thông báo cho Văn phòng Bộ hoặc bộ phận hành chính tổng hợp của đơn vị bố trí việc tiếp công dân theo quy định.

Sổ tiếp công dân

Điều 6

Điều 6. Sổ tiếp công dân 1. Sổ tiếp công dân phải được ghi đầy đủ từng lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo cụ thể về nội dung: ngày, tháng, năm khiếu nại, tố cáo; họ tên địa chỉ của từng công dân, số người đến khiếu nại, tố cáo; chữ ký của từng công dân đến khiếu nại, tố cáo; hồ sơ khiếu nại, tố cáo; tên cán bộ tiếp công dân và nội dung xử lý. 2. Quản lý và theo dõi sổ tiếp công dân: a) Thanh tra Bộ quản lý và theo dõi sổ tiếp công dân của Bộ; b) Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ (trừ các Vụ chức năng) quy định cụ thể bộ phận quản lý, theo dõi sổ tiếp công dân của đơn vị mình. Chương III TIẾP NHẬN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

Về toàn văn Thông tư Quy định về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp