Xây dựng kế hoạch
Điều 12. Xây dựng kế hoạch
1. Kế hoạch phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh nằm trong hệ thống kế hoạch phòng thủ dân sự của Bộ, ngành, địa phương phải được xây dựng trong thời bình; hàng năm và từng thời kỳ được bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Các Bộ, ngành Trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, đơn vị Quân đội xây dựng kế hoạch phòng chống, khắc phục hậu quả chiến tranh của Bộ, ngành, địa phương và đơn vị mình đồng thời chỉ đạo các cơ quan, địa phương và đơn vị thuộc quyền xây dựng kế hoạch phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh.
2. Khi xây dựng kế hoạch phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau: Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, phương châm, phương pháp; các biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh, sử dụng lực lượng; dự kiến và xử lý một số tình huống; tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy; công tác bảo đảm.
3. Bộ Tổng tham mưu quy định việc phê chuẩn kế hoạch phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh của các cơ quan, đơn vị Quân đội và lực lượng Dân quân tự vệ.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện phê chuẩn kế hoạch phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh của các ngành thuộc cấp mình.
5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã soạn thảo kế hoạch phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh của cấp mình trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn.
6. Người đứng đầu các Bộ, ngành Trung ương phê chuẩn kế hoạch phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh của các cơ quan, đơn vị thuộc quyền và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn cơ quan, ngành thuộc lĩnh vực quản lý xây dựng kế hoạch.
7. Cơ quan Thường trực phòng thủ dân sự Bộ Quốc phòng hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, đơn vị Quân đội và lực lượng Dân quân tự vệ xây dựng kế hoạch phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh.
Nắm và báo cáo tình hình
Điều 13. Nắm và báo cáo tình hình
1. Cơ quan Thường trực về phòng thủ dân sự của các Bộ, ngành Trung ương, các quân khu và các địa phương làm tham mưu giúp người đứng đầu các Bộ, ngành Trung ương; Tư lệnh quân khu và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo việc tổ chức lực lượng; trang bị, vật tư, phương tiện và quy định nội dung, phương pháp, chế độ, báo cáo tình hình có liên quan đến nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh theo hướng dẫn của Cơ quan Thường trực phòng thủ dân sự Bộ Quốc phòng.
2. Khi chuyển vào tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng người đứng đầu các Bộ, ngành, Tư lệnh quân khu, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phải chỉ đạo việc tổ chức lực lượng, trang bị vật tư, phương tiện để nắm, báo cáo tình hình theo hướng dẫn của cơ quan Thường trực về phòng thủ dân sự Bộ Quốc phòng.
Huy động lực lượng, phương tiện
Điều 14. Huy động lực lượng, phương tiện
1. Bộ Quốc phòng quyết định huy động lực lượng Quân đội và Dân quân tự vệ, các loại vật tư, trang bị, phương tiện thuộc quyền quản lý và Quyết định nhân lực, vật tư, phương tiện theo quy định tại Điều 35, Luật Quốc phòng và thẩm quyền điều động Dân quân tự vệ tại Điều 44 Luật Dân quân tự vệ để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định huy động lực lượng của các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân, các loại vật tư, trang bị, phương tiện của địa phương theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh.
3. Người đứng đầu các Bộ, ngành Trung ương, quyết định huy động lực lượng và các loại vật tư, phương tiện, trang thiết bị thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh trong phạm vi quyền hạn và lĩnh vực được phân công phụ trách.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức hiệp đồng các lực lượng thuộc quyền và các lực lượng đến chi viện thống nhất kế hoạch sử dụng lực lượng, chuẩn bị vật tư, trang bị, phương tiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh trên địa bàn.
Cơ chế chỉ huy
Điều 15. Cơ chế chỉ huy
1. Khi thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh tại các địa phương, người chỉ huy các cơ quan, đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ Quốc phòng, quân khu trực tiếp chỉ huy lực lượng thuộc quyền dưới sự chỉ đạo của cấp trên và hiệp đồng của Cơ quan quân sự địa phương các cấp.
2. Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự cấp tỉnh, cấp huyện và Ban chỉ huy quân sự cấp xã, trực tiếp chỉ huy lực lượng thuộc quyền dưới sự điều hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp. Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức cơ sở trực tiếp chỉ huy lực lượng tự vệ dưới sự điều hành của người đứng đầu cơ quan, tổ chức và thẩm quyền điều động Dân quân tự vệ tại Điều 44 Luật Dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh.
3. Việc tổ chức chỉ huy các lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh của các Bộ, ngành Trung ương do người đứng đầu các Bộ, ngành Trung ương quy định.
Hoạt động của các lực lượng phòng thủ dân sự khi có chiến tranh
Điều 16. Hoạt động của các lực lượng phòng thủ dân sự khi có chiến tranh
1. Khi địch tiến công hỏa lực bằng vũ khí thông thường
a) Kịp thời phát hiện ý định, thủ đoạn tiến công hỏa lực bằng vũ khí thông thường của địch. Chỉ huy các cơ quan, đơn vị Quân đội và Chỉ huy cơ quan quân sự địa phương các cấp phối hợp với các cơ quan thông tin và truyền thông nhanh chóng thông báo, báo động cho các cơ quan, địa phương, đơn vị và nhân dân trên địa bàn;
b) Các cơ quan, đơn vị Quân đội và lực lượng Dân quân tự vệ tổ chức phòng tránh để bảo toàn lực lượng, đánh trả địch trên các hướng, bảo vệ các mục tiêu được phân công;
c) Cơ quan Thường trực phòng thủ dân sự các cấp chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng tránh, sơ tán cho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân; tổ chức các lực lượng cứu thương, cứu sập, khắc phục hậu quả địch đánh phá, khôi phục sản xuất, bảo đảm đời sống cho nhân dân, duy trì mọi hoạt động của xã hội.
2. Khi địch sử dụng vũ khí hủy diệt lớn
a) Hệ thống đài quan sát, thông báo, báo động các cấp kịp thời phát hiện ý định, thủ đoạn địch sử dụng vũ khí hủy diệt lớn, phối hợp với hệ thống cảnh báo, báo động của quốc gia, khu vực nhanh chóng thông báo cho các cơ quan, đơn vị địa phương;
b) Các cơ quan, đơn vị Quân đội và lực lượng Dân quân tự vệ tổ chức đánh trả và áp dụng các biện pháp khắc phục, vô hiệu hóa vũ khí hủy diệt lớn của địch;
c) Cơ quan Thường trực phòng thủ dân sự các cấp chỉ đạo tổ chức các biện pháp phòng tránh, sơ tán nhân dân ra khỏi vùng nguy hiểm; hướng dẫn cho nhân dân cách phòng, chống vũ khí hủy diệt lớn của địch; tổ chức lực lượng cấp cứu người bị nhiễm độc, nhiễm xạ, khắc phục hậu quả môi trường, nhanh chóng khôi phục sản xuất và mọi hoạt động của xã hội.
Chương 6.
CHẾ ĐỘ SƠ KẾT, TỔNG KẾT, BÁO CÁO, KIỂM TRA, THANH TRA VỀ PHÒNG THỦ DÂN SỰ
Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.