Đã lưuĐăng ký
已失效

Pháp lệnh Tổ chức luật sư Chương 2 — ĐOÀN LUẬT SƯ

Điều 7–Điều 10 · 4 điều

Xem văn bản gốc ↗

Đoàn luật sư là tổ chức nghề nghiệp của các luật sư.

Điều 7

Điều 7 Đoàn luật sư là tổ chức nghề nghiệp của các luật sư. Khi có từ hai người trở lên có đủ điều kiện làm luật sư quy định ở Điều 11 của Pháp lệnh này đề nghị và được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương giới thiệu, Uỷ ban nhân dân cùng cấp ra quyết định cho phép thành lập Đoàn luật sư, sau khi đã thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Căn cứ vào quyết định của Uỷ ban nhân dân, những người có đề nghị nói ở đoạn 1 của Điều này tổ chức hội nghị thành lập Đoàn luật sư. Hội nghị thông qua Điều lệ và bầu ra các cơ quan của Đoàn theo Quy chế Đoàn luật sư.

ội nghị toàn thể Đoàn luật sư là cơ quan cao nhất của Đoàn luật sư.

Điều 8H

Điều 8 Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư là cơ quan cao nhất của Đoàn luật sư. Hội nghị toàn thể bầu ra Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra. Nhiệm kỳ của Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra là 3 năm. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội nghị toàn thể, Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra do Quy chế Đoàn luật sư quy định.

Đoàn luật sư thông qua Ban chủ nhiệm tổ chức các hoạt động của luật sư.

Điều 9

Điều 9 Đoàn luật sư thông qua Ban chủ nhiệm tổ chức các hoạt động của luật sư.

Đoàn luật sư có tư cách pháp nhân và tiến hành hoạt động nghề nghiệp kể từ ngày đăng ký tại Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương.

Điều 10

Điều 10 Đoàn luật sư có tư cách pháp nhân và tiến hành hoạt động nghề nghiệp kể từ ngày đăng ký tại Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương. Chương 3: LUẬT SƯ

Về toàn văn Pháp lệnh Tổ chức luật sư

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp