Đã lưuĐăng ký
Hết hiệu lực

Thông tư Quy định việc soạn thảo, ban hành và tổ chức triển khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật về y tế Chương III — SOẠN THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ Y TẾ

Điều 10–Điều 25 · 16 điều

Xem văn bản gốc ↗

Thành lập Ban soạn thảo

Điều 10

Tab mới ↗

Điều 10. Thành lập Ban soạn thảo 1. Các văn bản quy phạm pháp luật bắt buộc phải thành lập Ban soạn thảo: a) Luật, nghị quyết của Quốc hội; b) Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; c) Nghị định của Chính phủ. 2. Đối với các hình thức văn bản quy phạm pháp luật không thuộc quy định tại Khoản 1 Điều này, căn cứ tính chất, mức độ phức tạp của văn bản, Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định việc thành lập Ban soạn thảo trên cơ sở đề xuất của cơ quan chủ trì soạn thảo. 3. Các thành viên Ban soạn thảo và Tổ biên tập phải là người có liên quan trực tiếp đến nội dung của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. 4. Tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo thực hiện theo quy định tại các điều 30, 31, 60 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các điều 20, 21, 22, 23, 24 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.

Xây dựng đề cương sơ bộ của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế

Điều 11

Tab mới ↗

Điều 11. Xây dựng đề cương sơ bộ của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế 1. Đề cương sơ bộ phải thể hiện rõ những nội dung cơ bản của từng điều trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đồng thời phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể đối với từng loại văn bản quy định tại Khoản 2 Điều này. 2. Yêu cầu cụ thể đối với đề cương sơ bộ: a) Đối với đề cương sơ bộ của dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết: Đề cương phải thể hiện rõ định hướng xây dựng chính sách, pháp luật đối với nội dung mà dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết dự kiến điều chỉnh; b) Đối với đề cương sơ bộ của dự thảo nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ: - Đối với nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh: Đề cương phải thể hiện tính thống nhất về định hướng xây dựng chính sách, pháp luật với luật, pháp lệnh được hướng dẫn đồng thời phải thể hiện rõ quan điểm quản lý đối với vấn đề dự kiến hướng dẫn; - Đối với nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ không quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh: Đề cương phải thể hiện rõ định hướng xây dựng chính sách, pháp luật đối với nội dung mà dự thảo nghị định dự kiến điều chỉnh.

Xin ý kiến đối với đề cương sơ bộ của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế

Điều 12

Tab mới ↗

Điều 12. Xin ý kiến đối với đề cương sơ bộ của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế 1. Tùy theo tính chất của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế, cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định việc lựa chọn hình thức và đối tượng xin ý kiến góp ý theo quy định tại Điều 14 Thông tư này nhưng tối thiểu phải xin ý kiến của các đơn vị thuộc Bộ Y tế. 2. Đối với dự thảo đề cương sơ bộ của luật, pháp lệnh, nghị định, ngoài quy định tại Khoản 1 Điều này, Tổ biên tập phải tổ chức họp Ban soạn thảo để thống nhất và phê duyệt đề cương sơ bộ trước khi xây dựng dự thảo chi tiết của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định.

Xây dựng dự thảo chi tiết của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế

Điều 13

Tab mới ↗

Điều 13. Xây dựng dự thảo chi tiết của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế 1. Căn cứ đề cương sơ bộ, cơ quan chủ trì soạn thảo tiến hành xây dựng nội dung chi tiết các điều, khoản, điểm của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế. 2. Nội dung của dự thảo chi tiết dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế phải bảo đảm các yêu cầu sau: a) Bảo đảm tính logic, khoa học giữa các chương, điều, khoản, điểm trong nội dung dự thảo; b) Không quy định lại các nội dung đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác; c) Chỉ quy định đối tượng áp dụng trong trường hợp đối tượng áp dụng có tính đặc thù; d) Trường hợp có quy định thủ tục hành chính phải quy định rõ các giấy tờ, thời gian, cách thức thực hiện thủ tục hành chính; đ) Trường hợp có dẫn chiếu các văn bản quy phạm pháp luật trong nội dung dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế thì phải có quy định về điều khoản tham chiếu, trừ trường hợp dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc hình thức luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ; e) Trường hợp nội dung dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế có quy định về điều kiện để thực hiện các dịch vụ hoặc hoạt động y tế nhưng chưa thể áp dụng ngay tại thời điểm văn bản quy phạm pháp luật về y tế đó có hiệu lực thi hành hoặc có quy định về lộ trình thực hiện thì phải có quy định về điều khoản chuyển tiếp, trong đó phải quy định rõ cách thức áp dụng các quy định này.

Lấy ý kiến đối với dự thảo chi tiết văn bản quy phạm pháp luật về y tế

Điều 14

Tab mới ↗

Điều 14. Lấy ý kiến đối với dự thảo chi tiết văn bản quy phạm pháp luật về y tế 1. Hình thức lấy ý kiến góp ý: a) Gửi văn bản đề nghị tham gia ý kiến góp ý; b) Đăng tải toàn văn bản trên Cổng thông tin điện tử hoặc trang tin điện tử của cơ quan soạn thảo văn bản ít nhất 60 ngày trước thời điểm đề nghị kiểm tra hồ sơ trước khi đề nghị Bộ Tư pháp thẩm định quy định tại Khoản 1 Điều 18 hoặc đề nghị thẩm định quy định tại Khoản 1 Điều 19 Thông tư này; Riêng đối với luật, pháp lệnh, nghị định và quyết định của Thủ tướng Chính phủ phải thực hiện thêm việc đăng tải toàn văn thảo trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ. c) Tổ chức hội thảo, hội nghị, họp. 2. Đối tượng đề nghị tham gia ý kiến góp ý: a) Các Vụ, Cục, Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ, Tổng cục và các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế; b) Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh); c) Tổng hội Y học Việt Nam; d) Các bệnh viện đa khoa tỉnh và bệnh viện tư nhân đối với các văn bản có liên quan đến chuyên môn thuộc lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh hoặc tổ chức, hoạt động của bệnh viện; đ) Cơ quan đầu mối về y tế dự phòng tỉnh đối với các văn bản có liên quan đến chuyên môn hoặc tổ chức, hoạt động thuộc lĩnh vực y tế dự phòng; e) Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế đối với các nội dung có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp; g) Bộ Khoa học và Công nghệ đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thuộc lĩnh vực y tế; h) Bộ Công an đối với các nội dung có liên quan đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội; i) Ban soạn thảo đối với dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và nghị định; k) Các bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh đối với dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định và quyết định của Thủ tướng Chính phủ; l) Đối tượng khác tùy theo phạm vi điều chỉnh của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của Lãnh đạo Bộ hoặc theo yêu cầu của cơ quan cấp trên. 3. Số lần lấy tham gia ý kiến do cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định phụ thuộc vào tính chất, mức độ phức tạp của văn bản nhưng phải đáp ứng quy định tối thiểu sau: a) Đối với dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định: - Các đối tượng quy định tại các điểm a và b Khoản 2 Điều này sau khi hoàn thành dự thảo lần thứ nhất của luật, pháp lệnh, nghị định; - Ban soạn thảo sau khi hoàn chỉnh dự thảo trên cơ sở ý kiến góp ý của các đối tượng quy định tại các điểm a và b Khoản 2 Điều này; - Các đối tượng quy định tại các điểm c và k Khoản 2 Điều này sau khi hoàn chỉnh dự thảo trên cơ sở ý kiến của Ban soạn thảo; - Ban soạn thảo trước khi đề nghị Bộ Tư pháp thẩm định. b) Đối với dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ: - Các đối tượng quy định tại các điểm a và b Khoản 2 Điều này sau khi hoàn thành dự thảo lần thứ nhất của dự thảo quyết định; - Các đối tượng quy định tại các điểm c và k Khoản 2 Điều này trước khi gửi xin ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; c) Đối với dự thảo thông tư, thông tư liên tịch: Các đối tượng quy định tại các điểm a, b và l Khoản 2 Điều này.

Lấy ý kiến đối với quy định về thủ tục hành chính

Điều 15

Tab mới ↗

Điều 15. Lấy ý kiến đối với quy định về thủ tục hành chính 1. Trước khi gửi thẩm định 60 ngày, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo phải gửi lấy ý kiến cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định sau: a) Cục Kiểm soát thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp đối với thủ tục hành chính quy định trong dự án văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; b) Vụ Pháp chế đối với thủ tục hành chính quy định trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng Bộ Y tế và dự thảo thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Y tế với Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. 2. Trong thời gian 10 ngày làm việc, Vụ Pháp chế có trách nhiệm cho ý kiến góp ý đối với quy định về thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng Bộ Y tế và dự thảo thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Y tế với Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. 3. Hồ sơ lấy ý kiến đối với quy định về thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP.

Đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật

Điều 16

Tab mới ↗

Điều 16. Đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật 1. Đánh giá tác động sơ bộ của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế: a) Báo cáo đánh giá tác động sơ bộ chỉ thực hiện khi chuẩn bị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định; b) Quy trình đánh giá tác động sơ bộ của văn bản quy phạm pháp luật về y tế thực hiện theo quy định tại Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư này. 2. Đánh giá tác động đơn giản của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế: a) Báo cáo đánh giá tác động đơn giản phải thực hiện trước khi xây dựng dự thảo chi tiết của luật, pháp lệnh, nghị định. Trường hợp cơ quan chủ trì soạn thảo xác định nội dung đánh giá thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này thì có thể thực hiện ngay việc đánh giá tác động đầy đủ mà không cần phải thực hiện đánh giá tác động đơn giản; b) Quy trình đánh giá tác động đơn giản của văn bản quy phạm pháp luật về y tế thực hiện theo quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này. 3. Đánh giá tác động đầy đủ của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế: a) Báo cáo đánh giá tác động đầy đủ được thực hiện trong các trường hợp sau: - Văn bản có thể làm phát sinh chi phí từ 15 (mười lăm) tỷ đồng hằng năm trở lên cho Nhà nước, cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp, cá nhân; - Văn bản có thể tác động tới số lượng lớn doanh nghiệp; - Văn bản làm tăng đáng kể giá tiêu dùng; - Văn bản còn nhiều ý kiến khác nhau, được công chúng quan tâm và có ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích chung. b) Quy trình đánh giá tác động đầy đủ của văn bản quy phạm pháp luật về y tế thực hiện theo quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này. 4. Việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính thực hiện theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính, Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính và Thông tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính và rà soát, đánh giá thủ tục hành chính.

Hồ sơ đề nghị thẩm định văn bản quy phạm pháp luật về y tế

Điều 17

Tab mới ↗

Điều 17. Hồ sơ đề nghị thẩm định văn bản quy phạm pháp luật về y tế 1. Hồ sơ đề nghị Bộ Tư pháp thẩm định dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định về y tế: a) Dự thảo tờ trình Chính phủ; b) Dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định; c) Bản thuyết minh chi tiết về dự thảo; d) Báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản; đ) Báo cáo tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật (Không áp dụng đối với nghị định hướng dẫn luật, pháp lệnh mới ban hành); e) Bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý theo mẫu quy định tại Phụ lục 7 ban hành kèm theo Thông tư này; g) Báo cáo đánh giá tác động của thủ tục hành chính (nếu có). h) Các tài liệu khác (nếu có) 2. Hồ sơ đề nghị Bộ Tư pháp thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ: a) Dự thảo tờ trình Thủ tướng Chính phủ; b) Dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; c) Báo cáo tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật (Không áp dụng đối với quyết định hướng dẫn luật, pháp lệnh, nghị định mới ban hành); d) Bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý theo mẫu quy định tại Phụ lục 7 ban hành kèm theo Thông tư này; đ) Báo cáo đánh giá tác động của thủ tục hành chính (nếu có). 3. Hồ sơ đề nghị Vụ Pháp chế thẩm định thông tư, thông tư liên tịch: a) Tờ trình Bộ trưởng; b) Dự thảo thông tư, thông tư liên tịch; c) Báo cáo tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật (Không áp dụng đối với thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ mới ban hành); d) Bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý theo mẫu quy định tại Phụ lục 7 ban hành kèm theo Thông tư này; đ) Báo cáo đánh giá tác động của thủ tục hành chính (nếu có); e) Dự thảo văn bản hợp nhất (chỉ áp dụng đối với dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung thông tư, thông tư liên tịch); g) Dự thảo quyết định công bố thủ tục hành chính (nếu có).

Kiểm tra hồ sơ trước khi đề nghị Bộ Tư pháp thẩm định văn bản quy phạm pháp luật về y tế

Điều 18

Tab mới ↗

Điều 18. Kiểm tra hồ sơ trước khi đề nghị Bộ Tư pháp thẩm định văn bản quy phạm pháp luật về y tế 1. Cơ quan chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm gửi hồ sơ quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 16 Thông tư này đến Vụ Pháp chế để kiểm tra trước khi gửi Bộ Tư pháp thẩm định theo thời gian cụ thể như sau: a) Đối với dự thảo luật: - Chậm nhất là ngày 31/01 của năm trình văn bản đối với dự án luật dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp giữa năm; - Chậm nhất là ngày 30/6 của năm trình văn bản đối với dự án luật dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp cuối năm; b) Đối với dự thảo pháp lệnh: Chậm nhất là 180 ngày trước thời điểm trình Ủy ban thường vụ Quốc hội; c) Đối với dự thảo nghị định: Chậm nhất là 30 ngày trước ngày đầu tiên của tháng dự kiến trình Chính phủ; d) Đối với dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Chậm nhất là 30 ngày trước ngày đầu tiên của tháng dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ. 2. Trong thời gian 10 ngày làm việc, Vụ Pháp chế có trách nhiệm tổ chức kiểm tra hồ sơ đề nghị thẩm định: a) Trường hợp hồ sơ đề nghị thẩm định đáp ứng yêu cầu, Vụ Pháp chế có trách nhiệm đồng ký tắt vào dự thảo Tờ trình Chính phủ và Công văn gửi Bộ Tư pháp đề nghị thẩm định; b) Trường hợp hồ sơ đề nghị thẩm định chưa đáp ứng yêu cầu, Vụ Pháp chế có trách nhiệm hướng dẫn cơ quan chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định hoàn chỉnh hồ sơ. 3. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị thẩm định luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định đến Bộ Tư pháp sau khi Lãnh đạo Bộ ký công văn đề nghị Bộ Tư pháp thẩm định. Thời hạn gửi Bộ Tư pháp đề nghị thẩm định: Chậm nhất là ngày đầu tiên của tháng dự kiến trình Chính phủ.

Thẩm định thông tư, thông tư liên tịch

Điều 19

Tab mới ↗

Điều 19. Thẩm định thông tư, thông tư liên tịch 1. Chậm nhất là 20 ngày, trước ngày đầu tiên của tháng dự kiến trình Lãnh đạo Bộ ký ban hành, cơ quan chủ trì soạn thảo thông tư, thông tư liên tịch có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị thẩm định đến Vụ Pháp chế. 2. Trong thời gian 10 ngày làm việc, Vụ Pháp chế có trách nhiệm tổ chức thẩm định thông tư, thông tư liên tịch: a) Trường hợp hồ sơ trình thông tư, thông tư liên tịch đáp ứng yêu cầu, Vụ Pháp chế đồng ký tắt vào dự thảo thông tư, thông tư liên tịch và Phiếu trình Bộ trưởng đề nghị ký ban hành thông tư, thông tư liên tịch; b) Trường hợp hồ sơ trình thông tư, thông tư liên tịch chưa đáp ứng yêu cầu, Vụ Pháp chế có trách nhiệm hướng dẫn cơ quan chủ trì soạn thảo thông tư, thông tư liên tịch hoàn chỉnh hồ sơ. 3. Trong trường hợp văn bản có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, Vụ Pháp chế có trách nhiệm thành lập hội đồng thẩm định trong thời gian 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ và đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản báo cáo nội dung dự thảo tại phiên họp thẩm định. Hội đồng thẩm định có ít nhất 07 thành viên, gồm: a) Lãnh đạo Vụ Pháp chế - Chủ tịch Hội đồng; b) Các chuyên gia pháp luật và y tế liên quan đến nội dung của văn bản; c) Chuyên viên phụ trách lĩnh vực của Vụ Pháp chế - Thư ký Hội đồng. 4. Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp thẩm định, Vụ Pháp chế có trách nhiệm gửi biên bản thẩm định cho cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản. 5. Sau khi nhận được biên bản thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định, hoàn chỉnh dự thảo văn bản và gửi Vụ Pháp chế để thống nhất. 6. Sau khi nhận được Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định và dự thảo văn bản đã hoàn chỉnh của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản, Vụ Pháp chế có trách nhiệm thực hiện quy định tại Khoản 2 Điều này.

Trình Chính phủ dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định

Điều 20

Tab mới ↗

Điều 20. Trình Chính phủ dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định 1. Trên cơ sở công văn thẩm định dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định của Bộ Tư pháp, cơ quan chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị định có trách nhiệm: a) Xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; b) Hoàn chỉnh lại dự thảo Tờ trình Chính phủ, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định và các tài liệu khác trong hồ sơ trình Chính phủ dự thảo luật, pháp lệnh trên cơ sở ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp. 2. Sau khi hoàn chỉnh báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, dự thảo Tờ trình Chính phủ và dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm: a) Hoàn chỉnh hồ sơ trình Chính phủ: - Dự thảo luật, pháp lệnh theo quy định tại Điều 37 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; - Dự thảo nghị định theo quy định tại Điều 64 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP; b) Gửi hồ sơ trình Chính phủ dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định đến Vụ Pháp chế để kiểm tra và đồng ký tắt vào Tờ trình Chính phủ trước khi trình Bộ trưởng ký ban hành. 3. Trong thời gian 05 ngày làm việc, Vụ Pháp chế có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ trình Chính phủ dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định: a) Trường hợp hồ sơ trình Chính phủ dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định đáp ứng yêu cầu, Vụ Pháp chế đồng ký tắt vào Tờ trình Chính phủ và tờ trình Bộ trưởng đề nghị ký ban hành Tờ trình Chính phủ dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định; b) Trường hợp hồ sơ trình Chính phủ dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định chưa đáp ứng yêu cầu, Vụ Pháp chế có trách nhiệm hướng dẫn cơ quan chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh hoàn chỉnh hồ sơ. 4. Sau khi trình Chính phủ dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm phối hợp với Văn phòng Chính phủ trong việc: a) Chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định trước khi chính thức trình Chính phủ; b) Tiếp thu, giải trình ý kiến của các thành viên Chính phủ; c) Trường hợp dự thảo luật, pháp lệnh được Chính phủ thông qua: Hoàn chỉnh dự thảo luật, pháp lệnh và dự thảo Tờ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội dự thảo luật, pháp lệnh

Điều 21

Tab mới ↗

Điều 21. Trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội dự thảo luật, pháp lệnh 1. Sau khi Chính phủ thông qua dự thảo luật, pháp lệnh, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm hoàn chỉnh thủ tục để Bộ trưởng Bộ Y tế ký thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ đối với Tờ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội dự thảo luật, pháp lệnh. 2. Hoàn chỉnh hồ sơ trình Quốc hội dự thảo luật, pháp lệnh theo quy định tại Điều 42 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. 3. Phối hợp với Hội đồng Dân tộc và Ủy ban được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao nhiệm vụ thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh trong quá trình thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh. Trường hợp có thay đổi lớn về bố cục hoặc nội dung, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm báo cáo Bộ trưởng để trình xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ.

Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định

Điều 22

Tab mới ↗

Điều 22. Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định 1. Trên cơ sở công văn thẩm định dự thảo quyết định của Bộ Tư pháp, cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định có trách nhiệm: a) Xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; b) Hoàn chỉnh lại dự thảo Tờ trình Thủ tướng Chính phủ, dự thảo quyết định và các tài liệu khác trong hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định trên cơ sở ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp. 2. Sau khi hoàn chỉnh báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, dự thảo Tờ trình Thủ tướng Chính phủ và dự thảo quyết định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm: a) Hoàn chỉnh hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP; b) Gửi hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định đến Vụ Pháp chế để kiểm tra và đồng ký tắt vào Tờ trình Chính phủ trước khi trình Bộ trưởng ký ban hành. 3. Trong thời gian 05 ngày làm việc, Vụ Pháp chế có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định: a) Trường hợp hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định đáp ứng yêu cầu, Vụ Pháp chế đồng ký tắt vào Tờ trình Thủ tướng Chính phủ và tờ trình Bộ trưởng đề nghị ký ban hành Tờ trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định; b) Trường hợp hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định chưa đáp ứng yêu cầu, Vụ Pháp chế có trách nhiệm hướng dẫn cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định hoàn chỉnh hồ sơ. 4. Sau khi trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm phối hợp với Văn phòng Chính phủ trong việc chỉnh lý dự thảo quyết định trước khi chính thức trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.

Trình thông tư, thông tư liên tịch về y tế

Điều 23

Tab mới ↗

Điều 23. Trình thông tư, thông tư liên tịch về y tế 1. Thẩm quyền ký ban hành thông tư, thông tư liên tịch: a) Bộ trưởng ký ban hành thông tư, thông tư liên tịch thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ Y tế; b) Thứ trưởng ký ban hành thông tư, thông tư liên tịch thuộc lĩnh vực được Bộ trưởng phân công phụ trách sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng. 2. Hồ sơ trình Bộ trưởng ký ban hành thông tư, thông tư liên tịch thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 17 Thông tư này. Riêng đối với dự thảo thông tư, thông tư liên tịch phải có chữ ký tắt của lãnh đạo Vụ Pháp chế. 3. Trường hợp trình Thứ trưởng ký ban hành văn bản thì hồ sơ trình ban hành thông tư, thông tư liên tịch phải có thêm văn bản ủy quyền của Bộ trưởng cho Thứ trưởng ký ban hành văn bản.

Phát hành, đăng tải thông tư, thông tư liên tịch do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo

Điều 24

Tab mới ↗

Điều 24. Phát hành, đăng tải thông tư, thông tư liên tịch do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo 1. Phát hành thông tư, thông tư liên tịch do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo: a) Sau khi văn bản được ký ban hành, Văn phòng Bộ có trách nhiệm vào số văn bản; in ấn, chịu trách nhiệm về tính chính xác của tài liệu được in ấn so với bản chính; đóng dấu; lưu giữ; gửi văn bản cho tổ chức, cá nhân theo “nơi nhận” và gửi trả hồ sơ trình ký cho cơ quan chủ trì soạn thảo. b) Đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi Văn phòng Bộ tệp dữ liệu điện tử của văn bản và chịu trách nhiệm về tính chính xác của văn bản dạng tệp dữ liệu điện tử. 2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành văn bản, Văn phòng Bộ có trách nhiệm thực hiện việc đăng tải thông tư, thông tư liên tịch do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo: a) Gửi bản chính của văn bản kèm theo tệp dữ liệu điện tử đến Văn phòng Chính phủ để đăng Công báo theo quy định về đăng Công báo và để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ; b) Đăng tải toàn văn văn bản trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế; c) Gửi văn bản đến các cơ quan, đơn vị có liên quan ghi tại phần nơi nhận của văn bản.

Đính chính văn bản

Điều 25

Tab mới ↗

Điều 25. Đính chính văn bản 1. Thông tư, thông tư liên tịch đã phát hành nhưng có sai sót về nội dung phải được sửa đổi, thay thế bằng hình thức thông tư, thông tư liên tịch. 2. Văn bản sau khi đăng Công báo, nếu phát hiện có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày trong quá trình xây dựng văn bản thì cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm dự thảo Quyết định đính chính và xin ý kiến của Vụ Pháp chế trước khi trình Bộ trưởng ban hành. Chương IV TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THI HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ Y TẾ SAU KHI ĐƯỢC BAN HÀNH

Về toàn văn Thông tư Quy định việc soạn thảo, ban hành và tổ chức triển khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật về y tế

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp