Thông tư Quy định về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường Chương II — CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 8. Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tài nguyên và Môi trường gồm:
a) Chương trình xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo nhiệm kỳ của Quốc hội và hàng năm do Bộ Tài nguyên và Môi trường được phân công chủ trì soạn thảo trình cơ quan có thẩm quyền ban hành (sau đây gọi chung là chương trình xây dựng luật, pháp lệnh);
b) Chương trình xây dựng nghị định, nghị quyết liên tịch do Bộ Tài nguyên và Môi trường được phân công chủ trì soạn thảo trình Chính phủ ban hành (sau đây gọi chung là chương trình xây dựng nghị định);
c) Chương trình xây dựng quyết định của Thử tướng Chính phủ do Bộ Tài nguyên và Môi trường được phân công chủ trì soạn thảo trình Chính phủ ban hành ( sau đây gọi chung là chương trình xây dựng quyết định);
d) Chương trình xây dựng thông tư của Bộ trưởng, thông tư liên tịch do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì soạn thảo (sau đây gọi chung là chương trình xây dựng thông tư).
2. Căn cứ lập Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật:
a) Được giao theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị định, nghị quyết liên tịch của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc văn bản cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
b) Đề xuất của các đơn vị trực thuộc Bộ;
c) Kết quả rà soát, phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
d) Đề xuất, kiến nghị của các Sở Tài nguyên và Môi trường và tổ chức, cá nhân có liên quan.
3. Đề xuất xây dựng văn bản, đề cương chi tiết và dự kiến kế hoạch tổ chức thực hiện việc soạn thảo văn bản thực hiện theo Mẫu số 01 và Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này.
4. Hàng năm, Bộ trưởng phê duyệt chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ quy định tại Khoản 1 Điều này.
Điều 9. Lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh
1. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh
a) Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội gồm:
- Thuyết minh về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh: Bản thuyết minh về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ tên văn bản và sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; nội dung chính của văn bản; chính sách cơ bản của văn bản và mục tiêu của chính sách; các giải pháp để thực hiện chính sách; các tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản; dự kiến cơ quan chủ trì soạn thảo và thời gian trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản.
b) Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm gồm:
- Bản thuyết minh về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh: Bản thuyết minh về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh; quan điểm chỉ đạo việc soạn thảo và quá trình đã chuẩn bị cho việc soạn thảo; chính sách cơ bản của văn bản và mục tiêu của chính sách; các tác động tích cực, tiêu cực của chính sách và các giải pháp để thực hiện chính sách;
- Bản tổng hợp ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Ý kiến của Bộ Tài chính về tính hợp lý của nguồn tài chính dự kiến, ý kiến của Bộ Nội vụ về tính hợp lý của nguồn nhân lực dự kiến;
- Đề cương chi tiết của dự thảo văn bản.
2. Đơn vị đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm hoặc của cả nhiệm kỳ Quốc hội đến Vụ Pháp chế theo thời hạn sau:
a) Trước ngày 01 tháng 02 của năm đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội đối với hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ Quốc hội;
b) Chậm nhất là 45 ngày trước ngày 01 tháng 01 của năm trước năm dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm.
3. Vụ Pháp chế có trách nhiệm:
a) Tổng hợp đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và của cả nhiệm kỳ trên cơ sở đề nghị của các đơn vị trực thuộc Bộ, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân;
b) Đề nghị Lãnh đạo Bộ tổ chức cuộc họp với các đơn vị thuộc Bộ, có sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ để cho ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh nếu thấy cần thiết;
c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh để trình Bộ trưởng xem xét, quyết định và gửi Bộ Tư pháp.
Điều 10. Lập đề nghị xây dựng nghị định
1. Đơn vị đề nghị xây dựng nghị định có trách nhiệm:
a) Tổ chức lấy ý kiến các đơn vị liên quan về đề nghị xây dựng nghị định; đăng tải bản thuyết minh về đề nghị xây dựng nghị định và báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản trên Cổng thông tin điện tử của Bộ trong thời gian ít nhất là 20 (hai mươi) ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến;
b) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trên cơ sở các ý kiến góp ý và gửi hồ sơ đề nghị đến Vụ Pháp chế chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm trước để tổng hợp. Hồ sơ gồm có:
- Thuyết minh về đề nghị xây dựng Nghị định, trong đó nêu rõ tên văn bản, sự cần thiết ban hành văn bản, căn cứ ban hành, mục đích ban hành văn bản, chính sách cơ bản, nội dung chính của văn bản; dự kiến danh mục thủ tục hành chính (nếu có);
- Danh mục nghị định đề nghị đưa vào chương trình, bao gồm tên văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo, thời gian dự kiến trình Chính phủ;
- Báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản.
2. Vụ Pháp chế có trách nhiệm:
a) Lập đề nghị xây dựng nghị định trên cơ sở đề nghị của các đơn vị trực thuộc Bộ, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và căn cứ vào yêu cầu đối với đề nghị xây dựng nghị định;
b) Trong trường hợp cần thiết, đề nghị Lãnh đạo Bộ tổ chức cuộc họp với các đơn vị có liên quan để cho ý kiến về đề nghị xây dựng nghị định;
c) Phối hợp với Văn phòng Bộ trình Bộ trưởng ký gửi đề nghị xây dựng nghị định về lĩnh vực tài nguyên và môi trường đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp chậm nhất là ngày 01 tháng 8 của năm trước.
Lập đề nghị xây dựng quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Điều 11. Lập đề nghị xây dựng quyết định của Thủ tướng Chính phủ
1. Đơn vị đề nghị xây dựng quyết định có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị xây dựng quyết định và gửi về Vụ Pháp chế chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm trước. Hồ sơ gồm:
a) Thuyết minh về đề nghị xây dựng Quyết định, trong đó nêu rõ tên văn bản, sự cần thiết ban hành văn bản, căn cứ ban hành, nội dung chính của văn bản;
b) Tên đơn vị chủ trì soạn thảo, thời gian trình.
2. Vụ Pháp chế có trách nhiệm phối hợp với Văn phòng Bộ trình Bộ trưởng ký gửi đề nghị xây dựng quyết định đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp chậm nhất là ngày 01 tháng 8 của năm trước.
Lập chương trình xây dựng thông tư, thông tư liên tịch
Điều 12. Lập chương trình xây dựng thông tư, thông tư liên tịch
1. Đơn vị thuộc Bộ căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, đề xuất, kiến nghị của các Sở Tài nguyên và Môi trường, tổ chức, cá nhân có liên quan và yêu cầu thực tế, đề xuất các thông tư, thông tư liên tịch cần xây dựng gửi Vụ Pháp chế trước ngày 01 tháng 7 năm trước năm dự kiến ban hành.
Đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ, đề xuất danh mục văn bản quy phạm pháp luật dự kiến ban hành phải có ý kiến bằng văn bản của Tổng cục hoặc Cục được giao giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo lĩnh vực trước khi gửi Vụ Pháp chế tổng hợp.
Nội dung đề xuất nêu rõ: tên văn bản, sự cần thiết ban hành, căn cứ pháp lý, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, dự kiến danh mục thủ tục hành chính (nếu có), thời gian dự kiến ban hành (theo tháng), đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, điều kiện bảo đảm để xây dựng và thực thi văn bản.
2. Trong thời gian 20 (hai mươi) ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề xuất danh mục thông tư, thông tư liên tịch dự kiến ban hành của các đơn vị, Vụ Pháp chế có trách nhiệm tổng hợp, lấy ý kiến đối với đề xuất xây dựng thông tư, thông tư liên tịch để xin ý kiến Lãnh đạo Bộ, trình Bộ trưởng phê duyệt chương trình xây dựng thông tư, thông tư liên tịch.
Trường hợp hồ sơ đề nghị xây dựng thông tư, thông tư liên tịch của các đơn vị không đáp ứng yêu cầu quy định tại Khoản 1 Điều này, trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, Vụ Pháp chế có văn bản đề nghị các đơn vị bổ sung, hoàn thiện. Trường hợp đơn vị đề xuất xây dựng văn bản không bổ sung, hoàn thiện thì không đưa vào chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ.
3. Trong trường hợp cần thiết, Vụ Pháp chế tổ chức họp góp ý dự thảo chương trình xây dựng thông tư của Bộ; đề nghị đơn vị đề xuất xây dựng văn bản giải trình đối với những vấn đề cần làm rõ thêm.
Kiểm soát thủ tục hành chính trong quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Điều 13. Kiểm soát thủ tục hành chính trong quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính, các đơn vị dự kiến đăng ký có trách nhiệm thực hiện bổ sung các hoạt động sau để làm cơ sở cho việc đề nghị xây dựng văn bản có chứa quy định về thủ tục hành chính:
a) Đối với đề nghị xây dựng văn bản mới: nghiên cứu rõ số lượng, hình thức và dự kiến quy định về thủ tục hành chính, dự kiến số lượng đối tượng bị tác động bởi thủ tục hành chính được quy định trong văn bản;
b) Đối với đề nghị văn bản sửa đổi, bổ sung văn bản hiện hành: đánh giá hiệu quả thực tiễn, sự phù hợp trong việc thực hiện thủ tục hành chính hiện có trong các văn bản quy phạm pháp luật được đề nghị sửa đổi, bổ sung với các mục tiêu, bối cảnh quản lý nhà nước tại thời điểm ban hành văn bản và thời điểm sửa đổi, bổ sung.
2. Khi lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính, các đơn vị có trách nhiệm bổ sung trong thuyết minh về đề nghị xây dựng văn bản nội dung nêu rõ căn cứ thực tiễn, sự cần thiết, dự kiến số lượng, hình thức, phương thức thực hiện thủ tục hành chính. Trường hợp văn bản được đề nghị xây dựng là văn bản sửa đổi, bổ sung văn bản hiện hành thì chỉ thuyết minh cho những nội dung có sửa đổi về thủ tục hành chính.
Điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Điều 14. Điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Việc điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện trong các trường hợp sau đây;
a) Đưa ra khỏi chương trình đối với những văn bản quy phạm pháp luật chưa cần thiết ban hành hoặc không còn cần thiết phải ban hành do có sự thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội;
b) Bổ sung vào chương trình những văn bản quy phạm pháp luật do yêu cầu cấp thiết của việc quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội hoặc phải sửa đổi theo các văn bản mới được ban hành để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật hoặc để thực hiện các cam kết quốc tế;
c) Điều chỉnh thời điểm trình do chậm tiến độ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật;
d) Điều chỉnh thời điểm trình do chất lượng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật không bảo đảm.
2. Đề nghị điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy trình đề nghị xây dựng quy định tại Thông tư này.
Trong trường hợp đề nghị đưa ra khỏi chương trình hoặc điều chỉnh thời điểm trình văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan đề nghị phải có tờ trình nêu rõ lý do, phương hướng, giải pháp và thời gian thực hiện.
3. Khi có sự điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các đơn vị đề nghị điều chỉnh, bổ sung chương trình có trách nhiệm:
a) Báo cáo Thứ trưởng phụ trách về việc điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để xin ý kiến chỉ đạo;
b) Gửi Vụ Pháp chế văn bản đề nghị điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (ghi rõ nội dung cần điều chỉnh, bổ sung và giải trình cụ thể) để làm thủ tục cần thiết điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;
c) Vụ Pháp chế tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng ký văn bản gửi Văn phòng Chính phủ đối với điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định; trình Bộ trưởng ký ban hành Quyết định điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm của Bộ.
4. Việc thực hiện điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chỉ được thực hiện 01 lần vào tháng 6 hàng năm.
Tổng hợp, theo dõi, đôn đốc, báo cáo việc thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Điều 15. Tổng hợp, theo dõi, đôn đốc, báo cáo việc thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Thủ trưởng đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm:
a) Bảo đảm tiến độ soạn thảo, quy trình, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật;
b) Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ (tuần, tháng, quý, năm) hoặc đột xuất về tình hình thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật gửi Vụ Pháp chế tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng hoặc cơ quan có thẩm quyền;
Đối với văn bản quy phạm pháp luật chậm tiến độ, Thủ trưởng đơn vị phải báo cáo nêu rõ nguyên nhân, lý do của việc chậm tiến độ, đề xuất biện pháp khắc phục;
c) Thời gian gửi báo cáo 06 (sáu) tháng trước ngày 15 tháng 6 và báo cáo năm trước ngày 15 tháng 11 hàng năm.
2. Các Tổng cục, Cục được Bộ trưởng giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực có trách nhiệm tổng hợp, theo dõi, đôn đốc, báo cáo việc thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của lĩnh vực được giao quản lý.
Tổ chức pháp chế các Tổng cục, Cục có trách nhiệm giúp Tổng cục, Cục tổng hợp, theo dõi, đôn đốc, báo cáo việc thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Tổng cục, Cục; theo dõi, tổng hợp tiến độ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực được giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
3. Vụ Pháp chế có trách nhiệm:
a) Đôn đốc và tổng hợp báo cáo về tiến độ thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ;
b) Báo cáo Bộ trưởng những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ;
c) Dự thảo báo cáo 06 (sáu) tháng, hàng năm hoặc đột xuất về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trình Bộ trưởng ký văn bản gửi cơ quan có thẩm quyền.
4. Kết quả thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tài nguyên và Môi trường là một trong những tiêu chí đánh giá thi đua khen thưởng của các đơn vị thuộc Bộ hàng năm.
Chương III
SOẠN THẢO, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Mục 1
SOẠN THẢO LUẬT, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT, NGHỊ ĐỊNH, QUYẾT ĐỊNH