Tổ hoà giải
Điều 7. Tổ hoà giải
1- Tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác để thực hiện hoặc tổ chức thực hiện việc hoà giải những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật.
2- Tổ hoà giải có tổ trưởng và các tổ viên do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu để nhân dân bầu và do Uỷ ban nhân dân cùng cấp công nhận.
Chính phủ quy định chi tiết thủ tục bầu, miễn nhiệm tổ trưởng và tổ viên Tổ hoà giải.
Tổ trưởng Tổ hoà giải
Điều 8. Tổ trưởng Tổ hoà giải
1- Tổ trưởng Tổ hoà giải là người phụ trách Tổ hoà giải, đồng thời tham gia hoạt động hoà giải với tư cách tổ viên.
2- Tổ trưởng Tổ hoà giải có các nhiệm vụ sau đây:
a) Phân công, điều hoà, phối hợp hoạt động của các tổ viên Tổ hoà giải; phối hợp hoạt động với Tổ hoà giải khác khi xét thấy cần thiết;
b) Tổ chức rút kinh nghiệm về công tác hoà giải;
c) Báo cáo Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn về công tác hoà giải.
Tiêu chuẩn của tổ viên Tổ hoà giải
Điều 9. Tiêu chuẩn của tổ viên Tổ hoà giải
Tổ viên Tổ hoà giải có các tiêu chuẩn sau đây:
1- Có phẩm chất đạo đức tốt, nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và có uy tín trong nhân dân;
2- Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật;
3- Tự nguyện tham gia tổ chức hoà giải, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác hoà giải.
Chương 3:
HOẠT ĐỘNG HOÀ GIẢI