Lợi suất các mớn nợ vay trước ngày ban hành sắc lệnh này phải hạ thấp xuống dưới mức tối đa ấn định là:
Điều 2:
Lợi suất các mớn nợ vay trước ngày ban hành sắc lệnh này phải hạ thấp xuống dưới mức tối đa ấn định là:
- Vay tiền: 18% tức một phân rưỡi một tháng;
- Vay thóc hay sản vật: 20% tức 10% một vụ.
Nay xoá bỏ không phải trả những:
Điều 3:
Nay xoá bỏ không phải trả những:
1- Nợ cũ mà đến ngày ban hành sắc lệnh này đã trả lãi bằng gấp đôi số vốn. Nếu đã trả lại được bằng số vốn rồi thì chỉ còn phải trả vốn.
2- Nợ dân nghèo vay từ trước ngày 19 tháng 8 năm 1945 mà xét ra đến nay không thể trả được nữa.
3- Nợ cũ vay của những người đã bị kết án làm phương hại đến nền độc lập quốc gia.
4- Người vệ quốc quân, quân đội địa phương, dân quân du kích, cán bộ chính quyền hay đoàn thể, nghèo, đã vay nợ mà nay đã từ trần hoặc bị địch giết trong khi thi hành nhiệm vụ, thì dù nợ vay lúc nào cũng được xoá.
Các món nợ sau đây được hoãn và trong thời gian được hoãn đó không phải trả lãi:
Điều 4:
Các món nợ sau đây được hoãn và trong thời gian được hoãn đó không phải trả lãi:
1- Nợ cũ của những người hiện nay ở trong các đô thị lớn bị tạm chiếm.
2- Nợ cũ của các chiến sĩ nghèo đang tòng ngũ đã vay từ trước ngày ban hành sắc lệnh này: hoãn suốt trong thời gian tòng ngũ.
3- Nợ cũ của những người bị thiệt hại vì thiên tai hay tai nạn chiến hành (vay trước khi bị thiên tai hay tai nạn) mà nay nghèo túng xét ra không thể trả được: hoãn từ một đến ba năm.
CHƯƠNG II
CẤM ĐOÁN CÁC THỦ ĐOẠN BÓC LỘT
TRONG VIỆC VAY MƯỢN Ở THÔN QUÊ