au khi nhận được biên bản của Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và xác định kết quả bầu cử của các khu vực bỏ phiếu thuộc đơn vị bầu cử của mình.
Điều 49
Sau khi nhận được biên bản của Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và xác định kết quả bầu cử của các khu vực bỏ phiếu thuộc đơn vị bầu cử của mình.
Biên bản phải ghi rõ:
- Số đại biểu Quốc hội ấn định cho đơn vị bầu cử,
- Số người ứng cử,
- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử,
- Số cử tri đã đi bầu, tỷ lệ so với tổng số,
- Số phiếu hợp lệ,
- Số phiếu không hợp lệ,
- Số phiếu trắng tức là phiếu mà tên họ tất cả các người ứng cử đều bị gách xoá,
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử,
- Danh sách những người trúng cử,
- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại do Ban bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại chuyển lên cấp trên để giải quyết.
Biên bản làm thành hai bản, có chữ ký của Trưởng ban, Phó ban và các Thư ký. Một bản gửi lên Hội đồng bầu cử, một bản gửi lên Uỷ ban hành chính thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh hoặc khu.
rong số đại biểu mà đơn vị được cử, những người ra ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn cả là trúng cử; nếu nhiều người được một số phiếu bằng nhau thì, theo thứ tự tuổi, người nhiều tuổi hơn được trúng cử.
Điều 50
Trong số đại biểu mà đơn vị được cử, những người ra ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn cả là trúng cử; nếu nhiều người được một số phiếu bằng nhau thì, theo thứ tự tuổi, người nhiều tuổi hơn được trúng cử.
ếu trong cuộc bầu cử đầu tiên, số người trúng cử chưa đủ số đại biểu quy định thì Ban bầu cử phải ghi rõ điểm này vào biên bản và báo cáo cho Hội đồng bầu cử, đồng thời định ngày bầu cử thêm những đại biểu còn thiếu, chậm nhất không được quá mười lăm ngày, sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu th
Điều 51
Nếu trong cuộc bầu cử đầu tiên, số người trúng cử chưa đủ số đại biểu quy định thì Ban bầu cử phải ghi rõ điểm này vào biên bản và báo cáo cho Hội đồng bầu cử, đồng thời định ngày bầu cử thêm những đại biểu còn thiếu, chậm nhất không được quá mười lăm ngày, sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu thêm, chỉ chọn bầu trong số người đã ra ứng cử (nhưng không trúng cử).
rong mỗi đơn vị bầu cử, nếu số phiếu bầu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì Ban bầu cử phải ghi rõ điểm này vào biên bản và báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để quyết định ngày bầu lại, chậm nhất không được quá mười lăm ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu lại, chỉ chọn bầu
Điều 52
Trong mỗi đơn vị bầu cử, nếu số phiếu bầu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì Ban bầu cử phải ghi rõ điểm này vào biên bản và báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để quyết định ngày bầu lại, chậm nhất không được quá mười lăm ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu lại, chỉ chọn bầu trong số những người đã ra ứng cử kỳ đầu.
iệc bầu lại hoặc bầu thêm vẫn theo danh sách cử tri đã được sắp xếp trong cuộc bầu cử đầu tiên, và phải theo những điều đã được quy định trong Luật này, trừ điều kiện phải được quá nửa số phiếu hợp lệ thì người ứng cử mới được trúng cử quy định trong điều 50 và điều kiện phải có quá nửa số cử tri đi
Điều 53
Việc bầu lại hoặc bầu thêm vẫn theo danh sách cử tri đã được sắp xếp trong cuộc bầu cử đầu tiên, và phải theo những điều đã được quy định trong Luật này, trừ điều kiện phải được quá nửa số phiếu hợp lệ thì người ứng cử mới được trúng cử quy định trong điều 50 và điều kiện phải có quá nửa số cử tri đi bầu thì cuộc bầu cử mới không phải bầu lại quy định trong Điều 52.
MỤC 3
TỔNG KẾT CUỘC BẦU CỬ.
HIỆU LỰC CUỘC BẦU CỬ
Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.