Điều 1:
Súng săn nói trong thể lệ này gồm các loại súng dùng để săn bắn thú rừng, chim, như:
- Súng săn một và hai nòng cỡ 9, 12, 16, 20, 24... hoặc không có cỡ nhất định, tự động hoặc không tự động;
- Súng hoả mai, súng kíp.
Các loại súng hơi, súng bắn không lò xo không thuộc phạm vi quy định của Điều lệ này.
Đạn súng săn gồm có:
- Đạn súng săn các cỡ 9, 12, 16, 20, 24... hoặc không có cỡ nhất định ;
- Thuốc súng, hạt nổ đạn súng săn;
- Vỏ đạn súng săn đã lắp hạt nổ hoặc đã nhồi thuốc.
Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên trừ những người nói ở Điều 3 sau đây sau khi được Ty, Sở hoặc Khu công an (ở những khu không có tỉnh) cho phép được dùng súng săn để săn bắn, bảo vệ hoa màu.
Điều 2:
Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên trừ những người nói ở Điều 3 sau đây sau khi được Ty, Sở hoặc Khu công an (ở những khu không có tỉnh) cho phép được dùng súng săn để săn bắn, bảo vệ hoa màu.
Ngoại kiều cũng có thể được xét và cấp giấy phép dùng súng săn tuỳ từng trường hợp cụ thể.
Điều 3:
Những người sau đây không được dùng súng săn:
- Người đương bị truy tố;
- Người đương bị quản chế;
- Người mất quyền công dân;
- Người có can án;
- Người có bệnh tật xét ra dùng súng có thể nguy hiểm như mắt mù, tai điếc, mất trí, loạn óc hoặc say rượu, v.v...
Trong thời hạn hai tháng kể từ ngày công bố thể lệ này, người có súng săn phải mang súng đến khai và xin phép dùng súng săn tại Ty, Sở hoặc Khu công an nơi cư trú.
Điều 4:
Trong thời hạn hai tháng kể từ ngày công bố thể lệ này, người có súng săn phải mang súng đến khai và xin phép dùng súng săn tại Ty, Sở hoặc Khu công an nơi cư trú.
Muốn xin phép dùng súng săn, phải nộp các giấy tờ sau đây:
- Một đơn xin phép dùng súng săn;
- Một bản lý lịch do Uỷ ban hành chính xã hoặc Ban Cán sự hành chính khu phố chứng thực;
- Giấy phép mua súng săn, hoặc giấy phép dùng súng săn của chủ cũ và các giấy tờ liên quan nếu có;
- Hai tấm ảnh 4 x 6 mới, nghiêng mặt 2/3, đầu không đội mũ hoặc nón.
Ở
những vùng miền núi do Uỷ ban hành chính tỉnh hoặc khu quy định, đồng bào không phải thi hành các thủ tục nói trên mà chỉ cần mang súng săn đến khai tại Uỷ ban hành chính xã nơi cư trú để xét và cấp giấy phép dùng súng săn.
Giấy phép dùng súng săn có giá trị tối đa là ba năm. Hết thời hạn ấy phải xin đổi giấy phép mới.
Điều 5:
Giấy phép dùng súng săn có giá trị tối đa là ba năm. Hết thời hạn ấy phải xin đổi giấy phép mới.
Hàng năm từ ngày mồng 1 đến 31 tháng 12 dương lịch, người có giấy phép dùng súng săn phải trình ký kiểm soát vào giấy phép dùng súng săn tại Ty, Sở hoặc Khu công an nơi cư trú; đồng bào ở những vùng miền núi trình ký kiểm soát tại Uỷ ban hành chính xã cư trú. Giấy phép không trình ký kiểm soát hàng năm sẽ không còn giá trị.
Giấy phép mới cấp chưa quá sáu tháng được miễn trình ký kiểm soát năm đầu.
Khi thay đổi nơi cư trú từ tỉnh này, thành phố này sang tỉnh khác, thành phố khác, người có súng săn phải báo cho cơ quan công an nơi đi và nơi đến biết; đồng bào ở những vùng miền núi báo cho Uỷ ban hành chính xã nơi đi và nơi đến biết.
Điều 6:
Khi thay đổi nơi cư trú từ tỉnh này, thành phố này sang tỉnh khác, thành phố khác, người có súng săn phải báo cho cơ quan công an nơi đi và nơi đến biết; đồng bào ở những vùng miền núi báo cho Uỷ ban hành chính xã nơi đi và nơi đến biết.
Khi mất giấy phép hoặc mất súng săn, phải trình ngay cho cơ quan Công an hoặc Uỷ ban hành chính địa phương và báo cho cơ quan công an đã cấp giấy phép biết.
Khi súng săn bị hư hỏng không dùng được nữa, phải trả lại giấy phép cho cơ quan lý súng nơi cư trú.
Không được cho người khác thuê hoặc mượn súng săn và giấy phép dùng súng săn của mình. Đồng bào ở những vùng miền núi có thể cho người trong gia đình sử dụng súng săn của mình, nhưng người có súng phải chịu trách nhiệm.
Bất kỳ lúc nào, hễ nhà chức trách yêu cầu, người mang súng săn phải xuất trình ngay giấy phép và súng đạn để kiểm soát.
Không được săn bắn trong thành phố, thị xã, thị trấn (trừ vùng ngoại ô) và ở những nơi cấm săn bắn do Uỷ ban hành chính tỉnh, khu hoặc thành phố quy định.
Điều 7:
Không được săn bắn trong thành phố, thị xã, thị trấn (trừ vùng ngoại ô) và ở những nơi cấm săn bắn do Uỷ ban hành chính tỉnh, khu hoặc thành phố quy định.
Không được bắn súng khi đi trên xe, tàu thuyền đương chở hành khách.
Không được để đạn trong nòng súng khi ở trên xe, tàu, thuyền, khi đi trong thành phố, thị xã, thị trấn (trừ vùng ngoại ô), khi đến chỗ đông người hoặc vào nơi hội họp công cộng.
CHƯƠNG II
MUA, BÁN, SỬA CHỮA SÚNG SĂN