Thông tư Quy định trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Chương II — LẬP CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 11. Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
a) Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo nhiệm kỳ của Quốc hội (sau đây gọi chung là luật, pháp lệnh); chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm mà Bộ được phân công chủ trì soạn thảo;
b) Chương trình xây dựng nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ hàng năm theo yêu cầu quản lý nhà nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn mà Bộ được phân công chủ trì soạn thảo;
c) Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng.
2. Lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, hàng năm và của cả nhiệm kỳ Quốc hội; nghị định của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.
3. Bộ trưởng phê duyệt chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
Trách nhiệm của các đơn vị trong việc chuẩn bị đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định
Điều 12. Trách nhiệm của các đơn vị trong việc chuẩn bị đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định
1. Gửi đề nghị:
a) Trước ngày 15 tháng 02 của năm đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội, các đơn vị được giao chủ trì xây dựng luật, pháp lệnh gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội đến Vụ Pháp chế;
b) Chậm nhất là 125 (một trăm hai mươi lăm) ngày trước ngày 01 tháng 3 của năm trước năm dự kiến trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các đơn vị được giao chủ trì xây dựng luật, pháp lệnh gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm trên cơ sở chương trình của cả nhiệm kỳ Quốc hội đến Vụ Pháp chế;
c) Chậm nhất là 125 (một trăm hai mươi lăm) ngày trước ngày 01 tháng 3 của năm trước năm dự kiến trình Quốc Hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các đơn vị được giao chủ trì xây dựng luật, pháp lệnh gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm mà chưa có trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của cả nhiệm kỳ Quốc hội đến Vụ Pháp chế;
d) Trước ngày 30 tháng 6 của năm trước năm dự kiến ban hành, các đơn vị thuộc Bộ gửi đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo yêu cầu quản lý nhà nước của mình đến Vụ Pháp chế.
2. Hồ sơ đề nghị nêu tại điểm a, b, c và điểm d khoản 1 thực hiện theo quy định tại Điều 4 và khoản 1, Điều 15 của Nghị định số 24/2009/NĐ - CP.
Đề nghị xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hàng năm thực hiện theo Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này.
3. Ngoài các luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định do các đơn vị thuộc Bộ trực tiếp đề nghị xây dựng, Vụ Pháp chế đề xuất những văn bản có nội dung tổng hợp, văn bản lồng ghép các nội dung về nông nghiệp và phát triển nông thôn hoặc những văn bản cần thiết cần xây dựng do tổ chức cá nhân kiến nghị theo căn cứ và yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định không đáp ứng các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này thì Vụ Pháp chế yêu cầu các đơn vị bổ sung, hoàn chỉnh đề nghị.
Lập, gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định và quyết định
Điều 13. Lập, gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định và quyết định
1. Trong thời hạn 20 (hai mươi ngày), kể từ ngày hết hạn gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 12 của Thông tư này, Vụ Pháp chế lập dự thảo đề nghị của Bộ về xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định.
2. Trong trường hợp cần thiết hoặc theo yêu cầu của Bộ trưởng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế tổ chức cuộc họp với sự tham gia của các đơn vị có liên quan để xem xét dự thảo đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định; Thủ trưởng đơn vị có đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định thuyết trình về những vấn đề liên quan đến đề nghị của mình.
3. Vụ Pháp chế tổ chức phản biện khoa học đối với đề cương của dự án luật, pháp lệnh; đề cương dự thảo nghị quyết, nghị định, quyết định trong trường hợp xét thấy cần thiết.
4. Vụ Pháp chế trình Bộ trưởng dự thảo đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định.
5. Gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định:
a) Sau khi được Bộ trưởng phê duyệt, Vụ Pháp chế và Văn phòng Bộ có trách nhiệm gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định đến Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ;
b) Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết theo nhiệm kỳ của Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp, chậm nhất là ngày 01 tháng 3 năm đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết hàng năm được gửi đến Bộ Tư pháp, chậm nhất là 105 ngày trước ngày 01 tháng 3 của năm trước năm dự kiến trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
c) Đề nghị xây dựng nghị định, quyết định hàng năm được gửi đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp trước ngày 01 tháng 8 của năm trước.
Trách nhiệm của các đơn vị trong việc đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng
Điều 14. Trách nhiệm của các đơn vị trong việc đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng
1. Gửi đề nghị
a) Các đơn vị thuộc Bộ lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật dự kiến xây dựng ban hành trong năm gửi Vụ Pháp chế, Vụ Tài chính trước ngày 30 tháng 6 của năm trước năm dự kiến ban hành để lập dự trù kinh phí.
b) Các đơn vị thuộc Bộ dự kiến chương trình xây dựng văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng gửi Vụ Pháp chế trước ngày 01 tháng 11 của năm trước năm dự kiến ban hành để trình Bộ trưởng phê duyệt.
Ngoài các văn bản do các đơn vị thuộc Bộ trực tiếp đề xuất xây dựng, Vụ Pháp chế đề xuất những văn bản có nội dung tổng hợp, văn bản lồng ghép các nội dung về nông nghiệp và phát triển nông thôn hoặc những văn bản cần xây dựng mà chưa được các đơn vị thuộc Bộ đề xuất để dự kiến đưa vào chương trình.
2. Đề nghị xây dựng văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng phải nêu rõ sự cần thiết ban hành; phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của văn bản; cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo và cơ quan, đơn vị phối hợp; dự kiến thời gian trình văn bản; dự kiến nguồn lực tài chính, nhân lực và các nguồn lực khác bảo đảm thi hành và điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản.
Đối với đề nghị xây dựng văn bản không đáp ứng đầy đủ nội dung nêu trên, Vụ Pháp chế yêu cầu đơn vị bổ sung, hoàn chỉnh.
Mẫu đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này.
Đề nghị điều chỉnh việc xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Điều 15. Đề nghị điều chỉnh việc xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ
1. Trong trường hợp cần bổ sung việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước; cần điều chỉnh tiến độ và thời gian trình, thay đổi tên gọi, điều chỉnh phạm vi, nội dung cơ bản của văn bản hoặc đưa ra khỏi chương trình đối với những văn bản không bảo đảm tiến độ và chất lượng soạn thảo hoặc chưa cần thiết phải ban hành, đơn vị được giao chủ trì soạn thảo gửi văn bản báo cáo Lãnh đạo Bộ phụ trách.
2. Lãnh đạo Bộ phụ trách xem xét, quyết định việc đề xuất thay đổi. Sau khi có ý kiến của Lãnh đạo Bộ, đơn vị được giao chủ trì soạn thảo phối hợp với Văn phòng Bộ, Vụ Pháp chế dự thảo văn bản kiến nghị trình Bộ trưởng xem xét, quyết định.
Trường hợp kiến nghị đưa ra khỏi chương trình, văn bản kiến nghị phải kèm theo tờ trình nêu rõ lý do đưa ra khỏi chương trình, phương hướng và thời gian giải quyết.
3. Trong trường hợp kiến nghị bổ sung, điều chỉnh được chấp thuận, Vụ Pháp chế phối hợp với Văn phòng Bộ đăng ký việc bổ sung, điều chỉnh chương trình xây dựng văn bản với Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ.
Bổ sung, điều chỉnh chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng
Điều 16. Bổ sung, điều chỉnh chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng
1. Căn cứ bổ sung, điều chỉnh chương trình
a) Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;
b) Chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
c) Chỉ đạo của Bộ trưởng;
d) Kết quả kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật;
đ) Tình hình thực tiễn thay đổi và yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ.
2. Trình tự, thủ tục bổ sung, điều chỉnh chương trình
a) Trong trường hợp cần bổ sung việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước; cần điều chỉnh tiến độ và thời gian trình, thay đổi tên gọi, điều chỉnh phạm vi, nội dung cơ bản của văn bản hoặc đưa ra khỏi chương trình đối với những văn bản không bảo đảm tiến độ hoặc chưa cần thiết phải ban hành, đơn vị được giao chủ trì soạn thảo gửi đề nghị điều chỉnh về Vụ Pháp chế;
b) Trong thời hạn không quá 7 (bảy) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của các đơn vị, Vụ trưởng Vụ Pháp chế làm văn bản báo cáo Bộ trưởng xem xét, quyết định. Báo cáo phải nêu rõ lý do, phương hướng, thời gian, đề xuất việc giải quyết và ý kiến của Vụ Pháp chế.
Theo dõi, báo cáo việc thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
Điều 17. Theo dõi, báo cáo việc thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
1. Vụ Pháp chế theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị chủ trì soạn thảo để bảo đảm tuân thủ quy trình, tiến độ xây dựng, chất lượng soạn thảo và thời hạn trình văn bản quy phạm pháp luật, định kỳ báo cáo Bộ trưởng, Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ.
2. Trách nhiệm, thời hạn báo cáo
a) Trước ngày 20 của tháng cuối mỗi quý và trước ngày 15 tháng 11 của năm, đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản tiến độ xây dựng các văn bản gửi Vụ Pháp chế;
b) Vụ Pháp chế tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng định kỳ hàng tháng, quý, 6 tháng và năm.
Chương III
SOẠN THẢO, THẨM ĐỊNH, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Mục 1. SOẠN THẢO DỰ ÁN LUẬT, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI, ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI, DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ, QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ