Đã lưuĐăng ký
Hết hiệu lực

Thông tư Ban hành Quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông Chương V — CHẤM THI VÀ PHÚC KHẢO

Điều 23–Điều 26 · 4 điều

Xem văn bản gốc ↗

Hội đồng chấm thi

Điều 23

Tab mới ↗

Điều 23. Hội đồng chấm thi 1. Giám đốc sở giáo dục và đào tạo ra quyết định thành lập một Hội đồng chấm thi tốt nghiệp trung học phổ thông (sau đây gọi là Hội đồng chấm thi) để chấm bài thi trắc nghiệm của các thí sinh dự thi tại tỉnh mình và chấm bài thi tự luận của các thí sinh dự thi tại tỉnh khác, theo sự phân công của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2. Hội đồng chấm thi có một tổ chấm trên máy bài thi của các môn thi theo phương pháp trắc nghiệm và bộ phận giám sát trực tiếp, liên tục, thực hiện nhiệm vụ theo hướng dẫn chấm thi trắc nghiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 3. Hội đồng chấm thi có một bộ phận làm phách bài thi tự luận, độc lập với các tổ chấm thi. 4. Thành phần Hội đồng chấm thi: a) Chủ tịch Hội đồng chấm thi: lãnh đạo sở giáo dục và đào tạo; b) Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi: lãnh đạo phòng khảo thí, phòng giáo dục trung học, phòng giáo dục thường xuyên thuộc sở giáo dục và đào tạo; lãnh đạo các trường phổ thông. Mỗi Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi phụ trách một hoặc hai môn thi; c) Thư ký Hội đồng chấm thi: cán bộ công chức phòng khảo thí, phòng giáo dục trung học, phòng giáo dục thường xuyên thuộc sở giáo dục và đào tạo; lãnh đạo hoặc thư ký Hội đồng giáo dục trường phổ thông; d) Giám khảo: giáo viên trong biên chế, giáo viên cơ hữu các trường phổ thông của tỉnh đã hoặc đang dạy các môn thi lớp cuối cấp; giảng viên các trường cao đẳng, đại học trong và ngoài tỉnh. đ) Tổ trưởng, Phó tổ trưởng tổ chấm thi: Tổ trưởng, Phó tổ trưởng tổ chuyên môn các trường phổ thông hoặc giáo viên có năng lực chuyên môn, đã dạy lớp 12 ít nhất 02 năm, có kinh nghiệm chấm thi. 5. Số lượng thành viên của Hội đồng chấm thi do Giám đốc sở giáo dục và đào tạo quyết định trên cơ sở: a) Đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý chặt chẽ của sở giáo dục và đào tạo; b) Đúng tiêu chuẩn như quy định tại khoản 4 của Điều này; c) Đảm bảo các điều kiện chấm bài thi chính xác, đúng tiến độ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 6. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng chấm thi: a) Nhiệm vụ: - Kiểm tra và tiếp nhận địa điểm, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc của Hội đồng chấm thi; - Nhận toàn bộ bài thi trắc nghiệm, hồ sơ coi thi các môn trắc nghiệm do sở giáo dục và đào tạo sở tại bàn giao; - Nhận toàn bộ bài thi tự luận và hồ sơ coi thi các môn tự luận do sở giáo dục và đào tạo tỉnh khác bàn giao, theo phân công của Bộ Giáo dục và Đào tạo; - Chịu trách nhiệm bảo quản bài thi và hồ sơ coi thi đã nhận, trong suốt thời gian chấm thi; - Tiếp nhận Hướng dẫn chấm thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ Giám đốc sở giáo dục và đào tạo và in sao để phục vụ việc chấm thi của Hội đồng chấm thi; - Tổ chức chấm thi theo hướng dẫn chấm thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo; - Ghi điểm các bài thi vào bảng ghi điểm thi; - Đánh giá tổng quát về chất lượng bài thi trắc nghiệm, tự luận của thí sinh. Góp ý kiến về đề thi, hướng dẫn chấm thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo; - Giao nộp hồ sơ chấm thi trắc nghiệm và bài thi trắc nghiệm đã chấm; hồ sơ chấm thi tự luận và bài thi tự luận đã chấm cho sở giáo dục và đào tạo sở tại; - Thực hiện đúng những quy định trong Quy chế và các văn bản hướng dẫn tổ chức kỳ thi; chấp hành yêu cầu của Ban chỉ đạo thi các cấp. b) Quyền hạn: - Chỉ tiến hành chấm thi khi địa điểm làm việc có đủ điều kiện, phương tiện để đảm bảo sự an toàn của Hội đồng chấm thi và việc đánh giá chính xác, công bằng kết quả kỳ thi; - Không chấm bài thi của những thí sinh vi phạm Quy chế thi đã bị Hội đồng coi thi lập biên bản đề nghị huỷ kết quả thi; - Lập biên bản đề nghị Giám đốc sở giáo dục và đào tạo xử lý kết quả của những bài thi có dấu hiệu vi phạm Quy chế do Hội đồng chấm thi phát hiện; - Nhận kết quả chấm bài thi tự luận của tỉnh mình; tổ chức lên điểm; - Xét duyệt và đề nghị công nhận tốt nghiệp cho thí sinh của tỉnh mình. 7. Nhiệm vụ và quyền hạn của thành viên Hội đồng chấm thi: a) Chủ tịch Hội đồng chấm thi: - Điều hành và chịu trách nhiệm về toàn bộ công việc của Hội đồng chấm thi; - Xem xét, kết luận và đề nghị các hình thức kỷ luật đối với những người vi phạm Quy chế thi; - Đề nghị khen thưởng các thành viên có thành tích; - Yêu cầu giám khảo chấm lại những bài thi của thí sinh khi thấy giám khảo đó chấm không đúng hướng dẫn chấm thi. Đình chỉ việc chấm thi của giám khảo khi giám khảo đó cố tình chấm sai mặc dù đã yêu cầu chấm lại; - Chỉ đạo và phân công thực hiện việc lên điểm, hồi phách, xử lý kết quả chấm thi tự luận cho tỉnh khác. b) Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi: giúp Chủ tịch Hội đồng chấm thi điều hành một số công việc của Hội đồng chấm thi và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Hội đồng chấm thi về những phần việc được phân công; c) Thư ký Hội đồng chấm thi: chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Hội đồng chấm thi về việc soạn thảo các văn bản, lập các bảng biểu theo quy định, ghi biên bản các cuộc họp của Hội đồng chấm thi; d) Các thành viên khác: thực hiện nhiệm vụ theo sự điều hành và phân công của Chủ tịch Hội đồng chấm thi.

Khu vực chấm thi

Điều 24

Tab mới ↗

Điều 24. Khu vực chấm thi 1. Khu vực chấm thi bao gồm nơi chấm thi và nơi bảo quản bài thi được bố trí gần nhau, có đủ phương tiện bảo quản an toàn và bảo mật bài thi, được tổ chức bảo vệ 24/24 giờ. 2. Cửa phòng bảo quản bài thi được niêm phong sau mỗi buổi chấm. Mỗi lần niêm phong, mở niêm phong phải có sự chứng kiến của Chủ tịch Hội đồng chấm thi (hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi được Chủ tịch Hội đồng chấm thi uỷ quyền), thanh tra viên thuộc đoàn thanh tra thi của Bộ và thư ký Hội đồng chấm thi. 3. Tuyệt đối không được mang các phương tiện sao chép, tài liệu, giấy tờ riêng và các loại bút không nằm trong quy định của Hội đồng chấm thi vào và ra khỏi khu vực chấm thi.

Quy trình chấm thi

Điều 25

Tab mới ↗

Điều 25. Quy trình chấm thi 1. Nguyên tắc: a) Giám khảo và những người làm công tác phục vụ tại Hội đồng chấm thi đều phải được học tập, nắm vững Quy chế thi; không được mang theo phương tiện thu, phát thông tin cá nhân khi đang làm nhiệm vụ trong khu vực chấm thi; b) Chủ tịch Hội đồng chấm thi, Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi và Thư ký Hội đồng chấm thi phải có mặt tại địa điểm chấm thi trước khi tiến hành chấm thi (thời gian cụ thể do Giám đốc sở giáo dục và đào tạo sở tại quy định) để thực hiện các công việc sau: - Tiếp nhận địa điểm chấm thi, kiểm tra công tác chuẩn bị, cơ sở vật chất và các phương tiện để tổ chức chấm thi; - Nhận toàn bộ bài thi trắc nghiệm, hồ sơ coi thi trắc nghiệm do sở giáo dục và đào tạo sở tại bàn giao, toàn bộ bài thi tự luận, hồ sơ coi thi tự luận do sở giáo dục và đào tạo tỉnh khác bàn giao, theo phân công của Bộ Giáo dục và Đào tạo; - Thống nhất những quy định chung về tổ chức chấm thi, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên của Hội đồng chấm thi. 2. Quy định về chấm bài thi tự luận: a) Bộ phận làm phách bài thi tự luận được cách ly theo Công văn hướng dẫn tổ chức thi hằng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong thời gian cách ly của bộ phận làm phách, chỉ những người được Chủ tịch Hội đồng chấm thi cho phép bằng văn bản mới được vào nơi làm việc của bộ phận làm phách. Bộ phận làm phách thực hiện các công việc sau: - Đánh số phách và cắt phách theo quy trình 2 vòng độc lập quy định bởi phần mềm máy tính; niêm phong đầu phách trước khi giao bài cho Chủ tịch Hội đồng chấm thi hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi được Chủ tịch Hội đồng chấm thi ủy quyền; - Giao bài thi đã cắt phách cho Chủ tịch Hội đồng chấm thi hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi được Chủ tịch Hội đồng chấm thi ủy quyền; - Bảo quản đầu phách; xử lý các sự cố kỹ thuật liên quan đến phách theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng chấm thi hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi được Chủ tịch Hội đồng chấm thi ủy quyền; - Giao đầu phách (còn nguyên niêm phong) cho Chủ tịch Hội đồng chấm thi hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi được Chủ tịch Hội đồng chấm thi ủy quyền sau khi Hội đồng chấm thi hoàn thành việc lên điểm theo số phách; - Tham gia nhập điểm bài thi của từng môn thi vào máy tính và chuyển tờ ghi điểm về các tổ chấm thi để kiểm tra. b) Tổ trưởng, Phó tổ trưởng tổ chấm thi: - Phải có mặt trước khi chấm thi một ngày để nghiên cứu trước bản hướng dẫn chấm thi và chuẩn bị cho việc chấm thi của tổ; - Nghiên cứu trước và tổ chức cho các giám khảo trong tổ nghiên cứu bản hướng dẫn chấm thi; tổ chức chấm chung theo quy định; - Phân công giám khảo trong từng buổi chấm; giữ bí mật Danh sách phân công giám khảo chấm 2 vòng độc lập; - Nhận bài thi từ Chủ tịch Hội đồng chấm thi hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi được Chủ tịch Hội đồng chấm thi ủy quyền, giao bài thi cho các giám khảo trong tổ chấm, quản lý bài thi tại phòng chấm và giao lại cho Chủ tịch Hội đồng chấm thi hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi được Chủ tịch Hội đồng chấm thi ủy quyền khi kết thúc mỗi buổi chấm; - Điều hành, kiểm tra, giám sát việc chấm thi của các giám khảo trong tổ chấm thi; làm công tác thống kê, báo cáo theo quy định của Hội đồng chấm thi; - Cử giám khảo tham gia lên điểm, hồi phách theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng chấm thi; - Điều hành và giám sát việc kiểm tra lại điểm bài thi của các giám khảo. c) Giám khảo: - Chấm thi, đánh giá và cho điểm các bài thi theo đúng hướng dẫn chấm thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo; ghi điểm bài thi vào phiếu chấm và biên bản chấm thi do Hội đồng chấm thi cấp; - Quản lý số bài thi được giao; - Tham gia lên điểm, hồi phách bài thi theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng chấm thi; - Đối chiếu, kiểm tra, xác nhận sự thống nhất giữa điểm trên bài thi với điểm ghi trong các biên bản do bộ phận làm phách gửi lại. d) Trước khi giám khảo chấm bài thi tự luận, Tổ trưởng tổ chấm thi tổ chức cho các thành viên nghiên cứu hướng dẫn chấm thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo và tiến hành chấm chung 10 bài thi để giúp cho mọi giám khảo của tổ nhất quán thực hiện hướng dẫn chấm thi. Các bài chấm chung phải được cho điểm ngay sau khi thống nhất điểm, phải ghi rõ "bài chấm chung" kèm theo chữ ký của Tổ trưởng tổ chấm thi và ít nhất 2 giám khảo. Nếu trong tổ chấm thi có ý kiến thắc mắc không tự giải quyết được hoặc phát hiện có sự nhầm lẫn trong hướng dẫn chấm thi thì lập biên bản đề nghị Chủ tịch Hội đồng chấm thi xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên, tuyệt đối không được tự thay đổi hướng dẫn chấm thi và biểu điểm. đ) Mỗi bài thi tự luận phải được hai giám khảo chấm độc lập, ghi điểm riêng theo số phách vào phiếu chấm cá nhân. Giám khảo thứ nhất, ngoài những nét gạch chéo trên các phần giấy bỏ trống trong bài làm, không được ghi gì vào bài làm của thí sinh; điểm thành phần, điểm toàn bài và nhận xét được ghi vào phiếu chấm. Giám khảo thứ hai, ngoài việc ghi vào phiếu chấm cá nhân, phải ghi họ, tên vào ô quy định trên bài thi, ghi điểm thành phần vào lề bài thi, ngay cạnh ý được chấm. Sau khi mỗi bài đã được hai giám khảo chấm xong, Tổ trưởng tổ chấm thi giao lại cho hai giám khảo đó thống nhất rồi ghi tổng hợp, điểm thành phần, điểm toàn bài vào góc trái phía trên bên lề bài thi; ghi điểm toàn bài vừa bằng chữ, vừa bằng số vào cột thống nhất điểm trong phiếu chấm của hai giám khảo rồi cùng ký tên. Điểm của bài thi được ghi bằng mực đỏ; nếu có sự thay đổi điểm thì gạch chéo điểm đã cho và ghi điểm mới bằng cả số và chữ rồi hai giám khảo cùng ký tên để xác nhận việc sửa điểm. e) Xử lý kết quả chấm độc lập: - Xử lý kết quả 2 lần chấm độc lập như sau: + Điểm toàn bài bằng nhau hoặc lệch dưới 1,0 điểm: hai giám khảo thảo luận thống nhất điểm, rồi ghi điểm (bằng số và bằng chữ), ghi rõ họ tên và ký vào bài thi của thí sinh; + Điểm toàn bài lệch nhau từ 1,0 điểm đến dưới 2,0 điểm: hai giám khảo đối thoại và báo cáo Tổ trưởng tổ chấm thi để thống nhất điểm, sau đó ghi điểm (bằng số và bằng chữ), ghi rõ họ tên và ký vào bài thi của thí sinh. Nếu đối thoại không thống nhất được điểm thì Tổ trưởng tổ chấm thi quyết định điểm; Tổ trưởng tổ chấm thi và hai giám khảo ghi điểm (bằng số và bằng chữ), ghi rõ họ tên và ký vào bài thi của thí sinh; + Điểm toàn bài lệch nhau từ 2,0 điểm trở lên: Tổ trưởng tổ chấm thi tổ chức chấm lần thứ ba, phân công một giám khảo khác chấm trực tiếp vào bài thi của thí sinh bằng màu mực khác. - Xử lý kết quả 3 lần chấm như sau: + Nếu kết quả 2 trong 3 lần chấm giống nhau: Tổ trưởng tổ chấm thi lấy điểm giống nhau làm điểm chính thức, rồi cùng các giám khảo chấm bài thi ghi điểm (bằng số và bằng chữ), ghi rõ họ tên và ký vào bài thi của thí sinh; + Nếu kết quả 3 lần chấm lệch nhau đến dưới 3,0 điểm: Tổ trưởng tổ chấm thi lấy điểm trung bình cộng của 3 lần chấm làm điểm chính thức, rồi cùng các giám khảo chấm bài thi ghi điểm (bằng số và bằng chữ), ghi rõ họ tên và ký vào bài thi của thí sinh; + Nếu kết quả 3 lần chấm lệch nhau từ 3,0 điểm trở lên: Tổ trưởng tổ chấm thi tổ chức chấm tập thể, đại diện giám khảo và Tổ trưởng tổ chấm thi ghi rõ họ tên và ký vào bài thi của thí sinh. Điểm chấm lần này là điểm chính thức của bài thi. g) Ngoài Hội đồng phúc khảo, tuyệt đối không được chấm lại bài thi đã hồi phách; h) Việc ghi điểm bài thi vào bảng ghi điểm thi của mỗi phòng thi do bộ phận hồi phách thực hiện theo phương thức: một người đọc, một người ghi, một người kiểm tra. Nếu có nhầm lẫn thì người ghi điểm gạch chéo điểm ghi sai, ghi điểm mới bên cạnh, ghi rõ lý do sửa điểm ở phần chú thích và ký tên người ghi điểm, người kiểm tra. Cuối mỗi bảng ghi điểm thi phải ghi rõ: họ tên người đọc, người ghi, người kiểm tra, tổng số điểm sửa đổi, rồi cả ba người cùng ký; Trường hợp nhập điểm thi bằng máy vi tính: bảo đảm một người đọc, một người nhập điểm, một người kiểm tra và cuối bảng ghi điểm thi phải ghi rõ họ, tên của cả ba người và ba người cùng ký. 3. Quy định về chấm bài thi trắc nghiệm: a) Các phiếu trả lời trắc nghiệm là bài làm của thí sinh và đều được quét, xử lý và chấm bằng máy. Phiếu trả lời trắc nghiệm được giữ nguyên không rọc phách. Các thành viên tham gia tuyệt đối không được mang theo bút chì, tẩy vào phòng chấm thi và không được sửa chữa, thêm bớt vào phiếu trả lời trắc nghiệm của thí sinh với bất kỳ lí do gì. b) Trước khi quét phải lập biên bản mở niêm phong; ngay sau khi quét phải lập biên bản niêm phong phiếu trả lời trắc nghiệm và phiếu thu bài thi. c) Các file chứa danh sách các Hội đồng coi thi; Danh sách thí sinh dự thi theo từng Hội đồng; Danh sách thí sinh vắng theo từng môn thi; kết quả quét các bài thi dạng text, đã kiểm dò kỹ, chưa chấm thi được ghi vào 02 đĩa CD giống nhau, dán niêm phong, có chữ ký của các cán bộ giám sát: một đĩa giao cho Chủ tịch Hội đồng chấm thi cất giữ, một đĩa gửi chuyển phát nhanh về Bộ Giáo dục và Đào tạo, chậm nhất là 07 ngày sau khi thi xong môn cuối cùng của kỳ thi. d) Sau khi gửi đĩa CD lưu các file dữ liệu bằng chuyển phát nhanh về Bộ Giáo dục và Đào tạo, các đơn vị mới được mở niêm phong các file dữ liệu phục vụ chấm thi và tiến hành việc chấm thi.

Phúc khảo bài thi

Điều 26

Tab mới ↗

Điều 26. Phúc khảo bài thi 1. Mọi thí sinh đều có quyền xin phúc khảo bài thi nếu điểm bài thi thấp hơn điểm trung bình cả năm của môn học đó ở lớp 12 từ 2,0 điểm trở lên. 2. Trình tự và thủ tục: a) Thí sinh phải có đơn xin phúc khảo bài thi trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày niêm yết kết quả của kỳ thi; b) Thủ tục: - Thí sinh nộp đơn xin phúc khảo bài thi cho trường phổ thông nơi nộp hồ sơ dự thi tốt nghiệp; - Trường phổ thông căn cứ vào điều kiện phúc khảo bài thi lập thành danh sách đề nghị phúc khảo trong đó ghi rõ điểm bài thi và điểm trung bình cả năm của môn xin phúc khảo; - Trường phổ thông phải nộp sở giáo dục và đào tạo sở tại danh sách đề nghị phúc khảo và đơn xin phúc khảo bài thi của thí sinh; - Sở giáo dục và đào tạo sở tại có trách nhiệm tiếp nhận và chuyển đến Hội đồng phúc khảo của tỉnh mình toàn bộ danh sách và đơn xin phúc khảo bài thi trắc nghiệm, chuyển đến Hội đồng phúc khảo của tỉnh đã chấm bài tự luận, toàn bộ danh sách và đơn xin phúc khảo bài thi tự luận. 3. Đối với mỗi kỳ thi tốt nghiệp, việc phúc khảo bài thi chỉ thực hiện một lần. 4. Bài thi trắc nghiệm được phúc khảo theo quy trình riêng do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định trong Công văn hướng dẫn tổ chức thi hằng năm. 5. Hội đồng phúc khảo: a) Hội đồng phúc khảo được thành lập trong các trường hợp sau: - Có đơn xin phúc khảo của thí sinh; - Ban chỉ đạo thi cấp tỉnh hoặc Giám đốc sở giáo dục và đào tạo yêu cầu; - Ban chỉ đạo thi Trung ương yêu cầu; - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu. b) Giám đốc sở giáo dục và đào tạo thành lập một Hội đồng phúc khảo để phúc khảo các bài thi trắc nghiệm và tự luận mà Hội đồng chấm thi của tỉnh đã chấm; 6. Thành phần của Hội đồng phúc khảo: a) Chủ tịch Hội đồng phúc khảo: Lãnh đạo sở giáo dục và đào tạo; b) Phó Chủ tịch Hội đồng phúc khảo: - Lãnh đạo phòng khảo thí, phòng giáo dục trung học, phòng giáo dục thường xuyên; c) Thư ký Hội đồng phúc khảo: cán bộ công chức phòng khảo thí, phòng giáo dục trung học, phòng giáo dục thường xuyên; d) Giám khảo: giáo viên có kinh nghiệm của các trường phổ thông đã hoặc đang dạy các môn thi lớp 12, giảng viên các trường cao đẳng, đại học trong và ngoài tỉnh, nắm vững kiến thức bộ môn. Những người đã làm giám khảo tại Hội đồng chấm thi của kỳ thi không được tham gia Hội đồng phúc khảo; đ) Những người có cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cha, mẹ, anh, chị, em vợ hoặc chồng; người giám hộ hoặc đỡ đầu; người được giám hộ hoặc được đỡ đầu có đơn xin phúc khảo bài thi hoặc bị tố giác vi phạm Quy chế thi không được tham gia Hội đồng phúc khảo. 7. Nhiệm vụ, quyền hạn và nguyên tắc, thể thức làm việc của Hội đồng phúc khảo: a) Nhiệm vụ của Hội đồng phúc khảo: - Phúc khảo bài trắc nghiệm do sở giáo dục và đào tạo sở tại chuyển đến; - Rút bài thi tự luận, làm phách mới; tổ chức chấm lại bài thi theo hướng dẫn chấm, đảm bảo đúng nguyên tắc hai giám khảo chấm độc lập trên một bài thi; - Tổ chức đối thoại giữa cặp chấm của Hội đồng chấm thi và cặp chấm của Hội đồng phúc khảo nếu điểm bài thi tự luận chênh nhau từ 2,0 điểm trở lên; - Điều chỉnh điểm của bài thi khi điểm chấm lại chênh lệch so với điểm chấm lần trước từ 1,0 điểm trở lên. Kết luận điểm mới của bài thi; - Lập các biên bản, thông báo kết quả phúc khảo bài thi trắc nghiệm và chuyển cho sở giáo dục và đào tạo sở tại; - Lập các biên bản, thông báo kết quả phúc khảo bài thi tự luận, bàn giao cho sở giáo dục và đào tạo sở tại để chuyển cho sở giáo dục và đào tạo tỉnh khác có bài tự luận; - Niêm phong riêng các bài thi trắc nghiệm, các bài thi tự luận đã phúc khảo kèm theo phách và bàn giao cho sở giáo dục và đào tạo sở tại lưu trữ. b) Nếu điểm bài thi tự luận chênh lệch nhau từ 2,0 điểm trở lên thì điểm phúc khảo là điểm được thống nhất giữa cặp chấm của Hội đồng chấm thi và cặp chấm của Hội đồng phúc khảo. Những trường hợp không thống nhất về điểm bài thi và không kết luận được khuyết điểm thuộc về cặp chấm của Hội đồng chấm thi thì giữ nguyên điểm của Hội đồng chấm thi. Điểm phúc khảo dùng để xét tốt nghiệp hoặc chuyển xếp loại tốt nghiệp cho học sinh; c) Lập hồ sơ phúc khảo, bao gồm: Quyết định thành lập Hội đồng phúc khảo, các biên bản của Hội đồng phúc khảo, danh sách thí sinh được thay đổi điểm bài thi, các biên bản đối thoại giữa các cặp chấm thi (nếu có); d) Bài thi tự luận (và phách kèm theo) được thay đổi điểm phải niêm phong và bảo quản riêng; đ) Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập Hội đồng phúc khảo quốc gia: - Thành phần và số lượng ủy viên Hội đồng phúc khảo quốc gia do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định; - Hội đồng phúc khảo quốc gia có nhiệm vụ chấm lại các bài thi và quyết định điểm của bài thi được chấm lại; - Điểm của bài thi là điểm phúc khảo của Hội đồng phúc khảo quốc gia. e) Các khiếu nại khác về thi (ngoài điểm bài thi và hồ sơ thi) do thanh tra giáo dục giải quyết. 8. Thời hạn phúc khảo: a) Hội đồng phúc khảo bắt đầu làm việc chậm nhất 15 ngày kể từ ngày niêm yết kết quả của kỳ thi; b) Thời gian làm việc của Hội đồng phúc khảo không kéo dài quá 10 ngày; c) Kết quả phúc khảo được niêm yết công khai ngay sau khi Hội đồng phúc khảo hoàn tất công việc. Chương VI CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP MỤC 1: MIỄN THI VÀ ĐẶC CÁCH TỐT NGHIỆP

Về toàn văn Thông tư Ban hành Quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp