Đã lưuĐăng ký
Nguồn

Nghị định hướng dẫn Luật Phòng, chống mua bán người Chương II — TIẾP NHẬN, XÁC MINH, XÁC ĐỊNH VÀ BẢO VỆ NẠN NHÂN

Điều 4–Điều 16 · 13 điều

Xem văn bản gốc ↗

Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống mua bán người

Điều 4

Tab mới ↗

Điều 4. Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống mua bán người 1. Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống mua bán người (sau đây gọi là Tổng đài) sử dụng số điện thoại ngắn (111) của Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em để tiếp nhận tố giác, tin báo về hành vi mua bán người. 2. Tổng đài hoạt động 24 giờ tất cả các ngày để tiếp nhận tin báo, tố giác về hành vi mua bán người, được Nhà nước bảo đảm nguồn lực hoạt động. 3. Tổng đài thực hiện ghi âm tự động và miễn cước phí đối với tất cả các cuộc gọi đến, gọi đi. 4. Tổng đài được quảng bá số điện thoại theo quy định của pháp luật chuyên ngành về viễn thông, quảng cáo.

Nhiệm vụ của Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống mua bán người

Điều 5

Tab mới ↗

Điều 5. Nhiệm vụ của Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống mua bán người 1. Tiếp nhận tố giác, tin báo từ cá nhân, cơ quan, tổ chức về hành vi mua bán người theo quy định tại Điều 6 Nghị định này. 2. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan giải quyết tố giác, tin báo quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định này; cung cấp thông tin khi có đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức báo tin, tố giác qua điện thoại theo quy định của pháp luật. 3. Lưu trữ thông tin, dữ liệu liên quan đến tố giác, tin báo và thực hiện báo cáo theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin dữ liệu.

Quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài

Điều 6

Tab mới ↗

Điều 6. Quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài 1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện hành vi mua bán người, phát hiện bản thân mình hoặc người khác có nguy cơ bị mua bán thì gọi đến số điện thoại của Tổng đài để báo tin, tố giác. 2. Người tiếp nhận tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài thực hiện ghi chép nội dung thông tin tiếp nhận theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, trong trường hợp cần thiết và theo nhu cầu của người trình báo thực hiện tư vấn tâm lý, tư vấn chính sách, pháp luật, tư vấn hỗ trợ nạn nhân, cung cấp kỹ năng ứng phó với hành vi mua bán người. 3. Ngay sau khi kết thúc việc tiếp nhận tố giác, tin báo hành vi mua bán người, người tiếp nhận quy định tại khoản 2 Điều này phải thông báo cho cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra hành vi mua bán người hoặc nơi người báo tin cư trú để giải quyết theo quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người. 4. Cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận và có trách nhiệm giải quyết theo thẩm quyền hoặc kịp thời thông báo, kiến nghị khởi tố với cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp tố giác, tin báo về hành vi mua bán người mà nạn nhân hoặc người nghi là nạn nhân là trẻ em thì việc xử lý theo quy định của pháp luật về trẻ em.

Tiếp nhận, xác minh người đến trình báo

Điều 7

Tab mới ↗

Điều 7. Tiếp nhận, xác minh người đến trình báo 1. Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển hoặc cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận người đến trình báo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật Phòng, chống mua bán người thực hiện các việc sau: a) Hướng dẫn người đến trình báo kê khai Tờ khai dành cho người đến trình báo theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp người đến trình báo là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của người đó. Trường hợp người đến trình báo không biết, không hiểu tiếng Việt thì thực hiện hỗ trợ phiên dịch theo quy định tại Điều 19 Nghị định này. Sau khi hoàn thành việc kê khai, cơ quan tiếp nhận chuyển người có căn cứ cho rằng mình là nạn nhân kèm hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở; Trường hợp người được đại diện không trực tiếp đi trình báo cùng người đại diện hợp pháp của họ thì cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm chuyển hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được đại diện cư trú; b) Ủy ban nhân dân cấp xã khi tiếp nhận người đến trình báo và hồ sơ từ cơ quan tiếp nhận theo quy định tại điểm a khoản này, căn cứ vào tình trạng và nhu cầu của người đến trình báo để thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ y tế, hỗ trợ pháp luật, đồng thời có văn bản thông báo và chuyển người đến trình báo và hồ sơ đến Sở Y tế nơi tiếp nhận người đến trình báo; Đối với trường hợp hồ sơ của người được đại diện do cơ quan tiếp nhận chuyển đến, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được đại diện cư trú có trách nhiệm thông báo bằng văn bản và chuyển hồ sơ đến Sở Y tế nơi người được đại diện cư trú. 2. Trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận người đến trình báo hoặc hồ sơ từ Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, Sở Y tế nơi tiếp nhận người đến trình báo hoặc nơi người được đại diện cư trú thực hiện các nội dung sau: a) Dựa trên nhu cầu và tình trạng thực tế, thực hiện hỗ trợ y tế, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ tâm lý đối với người đến trình báo và người được đại diện. Trường hợp không thể bố trí được nơi lưu trú cho người đến trình báo thì chuyển họ đến cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân để tiếp tục được hỗ trợ. Các cơ sở này có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho người đang trong quá trình xác định là nạn nhân theo quy định tại Chương III Nghị định này; b) Phối hợp với Công an cấp tỉnh nơi người đến trình báo, người được đại diện cư trú hoặc nơi xảy ra sự việc, xác minh thông tin ban đầu gồm giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân, nhân thân, lai lịch và các thông tin liên quan đến vụ việc, vụ án; c) Sau khi xác minh thông tin ban đầu, trường hợp người đến trình báo và người được đại diện có đầy đủ giấy tờ, tài liệu xác nhận là nạn nhân, căn cứ vào nhu cầu của họ, thực hiện hỗ trợ chi phí đi lại để trở về nơi cư trú hoặc vào cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định tại Điều 22 của Nghị định này; d) Trường hợp người đến trình báo, người được đại diện chưa có giấy tờ, tài liệu chứng nhận nạn nhân thì Sở Y tế gửi văn bản đề nghị Công an cấp tỉnh nơi họ cư trú hoặc nơi xảy ra vụ việc mua bán người tiến hành xác minh, xác định nạn nhân; đ) Sau khi nhận được kết quả xác minh từ Công an cấp tỉnh theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều này, Sở Y tế thông báo cho cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân biết để thực hiện các dịch vụ hỗ trợ phù hợp cho nạn nhân bị mua bán theo quy định tại Chương III Nghị định này. Đồng thời, gửi thông tin cho Sở Y tế nơi nạn nhân cư trú biết để tiếp tục thực hiện hỗ trợ theo quy định khi nạn nhân trở về nơi cư trú. 3. Công an cấp tỉnh nơi người đến trình báo, người được đại diện cư trú hoặc nơi xảy ra vụ việc mua bán người thực hiện những việc sau đây: a) Tiến hành xác minh, xác định nạn nhân trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Phòng, chống mua bán người; b) Trường hợp xác minh thấy đủ căn cứ thì cấp giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán theo Mẫu số 05 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; trường hợp không đủ căn cứ thì cấp giấy xác nhận không phải nạn nhân bị mua bán theo Mẫu số 06 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và gửi kết quả xác minh cho Sở Y tế nơi tiếp nhận người đến trình báo.

Tiếp nhận, xác minh người được giải cứu

Điều 8

Tab mới ↗

Điều 8. Tiếp nhận, xác minh người được giải cứu 1. Cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân đã tiến hành giải cứu có trách nhiệm: a) Tiến hành ngay việc sơ cứu, cấp cứu nếu người được giải cứu bị thương tích, tổn hại sức khỏe; hướng dẫn họ kê khai Tờ khai dành cho người được giải cứu theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp người được giải cứu là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai thì cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của người đó; trong trường hợp cần thiết, cơ quan giải cứu thực hiện hỗ trợ phiên dịch và hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho họ; b) Sau khi giải cứu, cơ quan giải cứu tiến hành xác minh, xác định nạn nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Phòng, chống mua bán người: Trường hợp người được giải cứu đủ căn cứ xác nhận nạn nhân thì cấp giấy xác nhận nạn nhân theo Mẫu số 05 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và bàn giao nạn nhân cho Sở Y tế gần nơi giải cứu để thực hiện hỗ trợ theo quy định; Trường hợp chưa đủ căn cứ cấp giấy xác nhận là nạn nhân thì bàn giao cho Sở Y tế gần nơi giải cứu tiếp tục hỗ trợ theo quy định trong thời gian chờ xác minh, xác định. 2. Sở Y tế tiếp nhận người được giải cứu có trách nhiệm thực hiện những việc sau đây: a) Tiếp tục thực hiện hỗ trợ y tế, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ tâm lý cho người được giải cứu; trường hợp đã được cấp giấy xác nhận là nạn nhân bị mua bán thì căn cứ vào nhu cầu của họ, thực hiện hỗ trợ chi phí đi lại cho họ trở về nơi cư trú hoặc vào cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định tại Điều 22 Nghị định này; b) Trường hợp chưa đủ căn cứ xác định là nạn nhân thì Sở Y tế phối hợp với cơ quan giải cứu đề nghị Công an cấp tỉnh nơi người này được giải cứu xác minh, xác định nạn nhân theo quy định; c) Trong thời gian chờ xác minh, xác định nạn nhân, nếu không bố trí được nơi lưu trú cho họ, Sở Y tế chuyển người đó đến cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Các cơ sở này có trách nhiệm tiếp nhận, thực hiện hỗ trợ các dịch vụ phù hợp theo quy định tại Chương III Nghị định này; d) Sau khi nhận được kết quả xác minh từ Công an cấp tỉnh theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều này, Sở Y tế thông báo cho cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân biết để thực hiện các dịch vụ hỗ trợ phù hợp cho nạn nhân bị mua bán theo quy định tại Chương III Nghị định này. Đồng thời, gửi thông tin cho Sở Y tế nơi nạn nhân cư trú biết để thực hiện hỗ trợ theo quy định khi họ trở về. 3. Công an cấp tỉnh nơi giải cứu có trách nhiệm thực hiện: a) Tiến hành xác minh, xác định nạn nhân theo đề nghị của Sở Y tế. Thời hạn xác minh, xác định theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Phòng, chống mua bán người; b) Sau khi có kết quả xác minh, trường hợp đủ căn cứ để xác nhận nạn nhân thì cấp giấy xác nhận nạn nhân bị mua bán theo Mẫu số 05 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; trường hợp không đủ căn cứ xác nhận là nạn nhân thì cấp giấy xác nhận không phải nạn nhân bị mua bán theo Mẫu số 06 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và thông báo kết quả cho Sở Y tế nơi giải cứu.

Giải cứu, tiếp nhận, xác minh nạn nhân đang ở nước ngoài

Điều 9

Tab mới ↗

Điều 9. Giải cứu, tiếp nhận, xác minh nạn nhân đang ở nước ngoài 1. Sau khi nhận được thông tin, tài liệu về người được cho là nạn nhân do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở trong nước trao đổi, do người biết việc đến trình báo, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) thực hiện các việc sau đây: a) Thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền nước sở tại để phối hợp kiểm tra, xác minh và tổ chức giải cứu; b) Tiến hành xác minh nạn nhân và thực hiện hỗ trợ theo quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Sau khi đã phối hợp giải cứu nạn nhân hoặc sau khi tiếp nhận thông tin của người tự trình báo, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện các việc sau: a) Trong thời hạn 02 ngày làm việc, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hướng dẫn người đó kê khai vào Tờ khai dành cho nạn nhân bị mua bán ở nước ngoài theo Mẫu số 03 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, kiểm tra giấy tờ xuất nhập cảnh hoặc giấy tờ tùy thân do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, giấy tờ làm căn cứ để xác định quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật về quốc tịch trong trường hợp không có giấy tờ xuất nhập cảnh, thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến việc bị mua bán. Đối với trường hợp là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai, cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của họ. Đối với trường hợp không hiểu, không biết tiếng Việt, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ phiên dịch và ghi lại nội dung phiên dịch; b) Sau khi tiếp nhận Tờ khai dành cho nạn nhân bị mua bán, trường hợp có đủ căn cứ để cấp hộ chiếu thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp hộ chiếu phổ thông theo thủ tục rút gọn (miễn thu lệ phí). Trường hợp chưa đủ căn cứ để cấp hộ chiếu thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi văn bản về Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an để xác minh, đồng gửi Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp hộ chiếu phổ thông theo thủ tục rút gọn (miễn thu lệ phí); c) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận Tờ khai dành cho nạn nhân bị mua bán và thông tin, tài liệu liên quan đến việc mua bán, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi văn bản kèm theo hồ sơ của người đó (gồm Tờ khai, các thông tin, tài liệu liên quan) về Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao để xác minh nạn nhân; d) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao về kết quả xác minh nạn nhân, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp giấy xác nhận là nạn nhân theo Mẫu số 05 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này hoặc giấy xác nhận không phải là nạn nhân theo Mẫu số 06 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; Trường hợp văn bản trả lời của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao thông báo chưa đủ căn cứ để cấp giấy xác nhận là nạn nhân hoặc giấy xác nhận không phải là nạn nhân, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đề nghị Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao phối hợp với cơ quan có thẩm quyền ở trong nước tiếp tục xác minh nạn nhân theo thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật Phòng, chống mua bán người và trả lời cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; đ) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ y tế, hỗ trợ pháp luật cho nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, người dưới 18 tuổi đi cùng trong trường hợp cần thiết và trên cơ sở nguyện vọng của họ, theo quy định tại Chương III Nghị định này. Trường hợp nạn nhân có nguyện vọng được hỗ trợ làm thủ tục đưa về nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thông báo bằng văn bản cho Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao và cơ quan có thẩm quyền quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Nghị định này về phương tiện, thời gian, cửa khẩu nhập cảnh, chi tiết nhân thân, số và loại giấy tờ xuất nhập cảnh của công dân trước khi công dân nhập cảnh ít nhất 03 ngày làm việc để tổ chức tiếp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định này. 3. Việc xác minh tại cơ quan có thẩm quyền ở trong nước a) Ngay sau khi nhận được văn bản đề nghị xác minh của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều này, trong thời hạn 30 ngày, Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an có trách nhiệm xác minh và trả lời cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài bằng văn bản, đồng gửi Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao; b) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm gửi văn bản cho cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an hoặc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng đề nghị xác minh nạn nhân; c) Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao đề nghị xác minh nạn nhân, cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tổ chức xác minh và gửi Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao văn bản trả lời kết quả xác minh; Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh từ cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng, Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm gửi văn bản trả lời cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về việc tiếp tục xác minh các trường hợp chưa đủ căn cứ cấp giấy xác nhận là nạn nhân hoặc giấy xác nhận không phải là nạn nhân, Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao có văn bản gửi cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an hoặc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng đề nghị tiếp tục xác minh; thời hạn xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Phòng, chống mua bán người.

Tiếp nhận, xác minh nạn nhân từ nước ngoài trở về

Điều 10

Tab mới ↗

Điều 10. Tiếp nhận, xác minh nạn nhân từ nước ngoài trở về 1. Việc tiếp nhận, xác minh nạn nhân từ nước ngoài trở về qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài: a) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận thông tin, tài liệu về nạn nhân, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hướng dẫn nạn nhân kê khai vào Tờ khai dành cho nạn nhân bị mua bán ở nước ngoài theo Mẫu số 03 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, kiểm tra giấy tờ xuất nhập cảnh hoặc giấy tờ tùy thân do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, giấy tờ làm căn cứ để xác định quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật về quốc tịch trong trường hợp không có giấy tờ xuất nhập cảnh, thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến việc bị mua bán. Đối với trường hợp là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai, cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của họ. Đối với trường hợp không hiểu, không biết tiếng Việt, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ phiên dịch và ghi lại nội dung phiên dịch; Đối với trường hợp không có giấy tờ xuất nhập cảnh, trong thời hạn 02 ngày làm việc, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi văn bản kèm theo hồ sơ của người đó gửi Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an để xác minh nhân thân, đồng gửi Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao. Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an có trách nhiệm thực hiện xác minh theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 9 Nghị định này; Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp hộ chiếu phổ thông theo thủ tục rút gọn (miễn thu lệ phí) trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an; b) Trên cơ sở nguyện vọng của công dân, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ làm thủ tục đưa về nước, thông báo bằng văn bản cho Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao, Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an, Công an cấp tỉnh nơi có cửa khẩu tiếp nhận nạn nhân trở về (nếu nạn nhân trở về qua cửa khẩu đường hàng không) hoặc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng nơi có cửa khẩu tiếp nhận nạn nhân trở về (nếu nạn nhân trở về qua cửa khẩu biên giới đất liền, cửa khẩu cảng), Sở Y tế nơi có cửa khẩu tiếp nhận nạn nhân trở về, Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Y tế về phương tiện, thời gian, cửa khẩu nhập cảnh, chi tiết nhân thân, số và loại giấy tờ xuất nhập cảnh của công dân kèm theo Tờ khai dành cho nạn nhân bị mua bán ở nước ngoài và các thông tin, tài liệu liên quan trước khi công dân nhập cảnh ít nhất 03 ngày làm việc để tổ chức tiếp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Việc tổ chức tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân từ nước ngoài trở về tại cơ quan có thẩm quyền ở trong nước a) Trên cơ sở văn bản thông báo của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh thực hiện đối chiếu, kiểm danh, kiểm diện, tiếp nhận nạn nhân và làm thủ tục nhập cảnh; b) Trường hợp nạn nhân trở về qua cửa khẩu đường hàng không, sau khi làm thủ tục tiếp nhận, đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh bàn giao cho Công an cấp tỉnh nơi có cửa khẩu. Công an cấp tỉnh nơi có cửa khẩu hướng dẫn nạn nhân kê khai bổ sung thông tin vào Tờ khai dành cho nạn nhân bị mua bán ở nước ngoài nếu cần thiết, lấy lời khai ban đầu của nạn nhân để khai thác, thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi mua bán người, phục vụ công tác xác minh, xác định nạn nhân, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai, cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của họ; Sau khi xác minh nạn nhân theo thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Phòng, chống mua bán người, Công an cấp tỉnh cấp giấy xác nhận là nạn nhân theo Mẫu số 05 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này hoặc giấy xác nhận không phải là nạn nhân theo Mẫu số 06 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; thông báo Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao bằng văn bản để phối hợp; c) Trường hợp nạn nhân trở về qua cửa khẩu biên giới đất liền, cửa khẩu cảng, sau khi làm thủ tục tiếp nhận, đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh hướng dẫn nạn nhân kê khai bổ sung thông tin vào Tờ khai dành cho nạn nhân bị mua bán ở nước ngoài nếu cần thiết, chủ trì hoặc phối hợp với Công an cấp tỉnh nơi có cửa khẩu lấy lời khai ban đầu của nạn nhân để khai thác, thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi mua bán người, phục vụ công tác xác minh, xác định nạn nhân, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai, cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của họ; Sau khi xác minh nạn nhân theo thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Phòng, chống mua bán người, đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh cấp giấy xác nhận là nạn nhân theo Mẫu số 05 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này hoặc giấy xác nhận không phải là nạn nhân theo Mẫu số 06 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; thông báo cho Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao bằng văn bản để phối hợp; d) Công an cấp tỉnh và đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu biên giới đất liền, cửa khẩu cảng quy định điểm b và điểm c khoản 2 Điều này căn cứ tình trạng và nhu cầu của nạn nhân để thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ y tế theo quy định tại Chương III Nghị định này; đưa ngay người đó (cùng hồ sơ) đến Sở Y tế nơi nhận để thực hiện việc hỗ trợ theo quy định; đ) Sau khi tiếp nhận nạn nhân từ Công an cấp tỉnh hoặc Bộ đội Biên phòng cửa khẩu nơi nạn nhân trở về, Sở Y tế nơi tiếp nhận căn cứ nhu cầu của nạn nhân để thực hiện hỗ trợ theo quy định tại Chương III Nghị định này; có văn bản thông báo cho Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Y tế để phối hợp; Trường hợp có nguyện vọng trở về nơi cư trú, Sở Y tế nơi tiếp nhận hỗ trợ chi phí tiền tàu, xe đi lại trong nước và tiền ăn trong thời gian đi đường, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Công an cấp tỉnh và Sở Y tế nơi họ cư trú để theo dõi, quản lý và hỗ trợ theo quy định; Trường hợp cần được chăm sóc về sức khỏe, tâm lý hoặc chưa xác định được nơi cư trú mà có nguyện vọng được lưu trú, Sở Y tế nơi tiếp nhận chuyển người đó đến cơ sở trợ giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Các cơ sở này có trách nhiệm tiếp nhận, thực hiện hỗ trợ các dịch vụ phù hợp theo quy định tại Chương III Nghị định này; Trường hợp nạn nhân là trẻ em, Sở Y tế nơi tiếp nhận thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân thích cư trú; trường hợp trẻ em không có nơi nương tựa hoặc có căn cứ cho rằng họ có thể gặp nguy hiểm khi đưa về nơi người thân thích cư trú thì chuyển đến cơ sở trợ giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân để thực hiện hỗ trợ theo quy định tại Chương III Nghị định này; Sau khi nhận được kết quả xác minh từ Công an cấp tỉnh hoặc Bộ đội Biên phòng cửa khẩu nơi nạn nhân trở về, Sở Y tế nơi tiếp nhận thông báo bằng văn bản cho cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân để thực hiện các dịch vụ hỗ trợ phù hợp với nạn nhân bị mua bán hoặc người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán theo quy định tại Chương III Nghị định này; đồng thời, gửi thông tin cho Sở Y tế nơi nạn nhân cư trú biết để thực hiện hỗ trợ theo quy định khi họ trở về. 3. Việc tiếp nhận người trở về Việt Nam theo thỏa thuận quốc tế song phương có liên quan về phòng, chống mua bán người a) Khi tiếp nhận người trở về Việt Nam theo thỏa thuận quốc tế song phương có liên quan về phòng, chống mua bán người, cơ quan quy định tại thỏa thuận có trách nhiệm chuyển người đó đến Công an cấp tỉnh nơi người trở về để thực hiện tiếp nhận; b) Công an cấp tỉnh nơi người trở về sau khi đã tiếp nhận có trách nhiệm hướng dẫn người đó kê khai vào Tờ khai dành cho nạn nhân bị mua bán ở nước ngoài theo Mẫu số 03 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, lấy lời khai ban đầu của người đó để khai thác, thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi mua bán người, phục vụ công tác xác minh, xác định nạn nhân, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai, cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của họ. Sau khi xác minh nạn nhân theo thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Phòng, chống mua bán người, Công an cấp tỉnh cấp giấy xác nhận là nạn nhân theo Mẫu số 05 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này hoặc giấy xác nhận không phải là nạn nhân theo Mẫu số 06 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; c) Sau khi người trở về hoàn thành việc kê khai theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều này, Công an cấp tỉnh căn cứ tình trạng và nhu cầu của người trở về để thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ y tế, hỗ trợ phiên dịch; trong thời hạn 02 ngày làm việc đưa người đó đến Sở Y tế nơi tiếp nhận để thực hiện hỗ trợ theo quy định; d) Sở Y tế nơi tiếp nhận căn cứ nhu cầu của người trở về để thực hiện hỗ trợ theo quy định tại Chương III Nghị định này và có văn bản báo cáo Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Y tế.

Tiếp nhận, xác minh, giải cứu và trao trả người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam

Điều 11

Tab mới ↗

Điều 11. Tiếp nhận, xác minh, giải cứu và trao trả người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam 1. Việc xác minh, giải cứu và trao trả người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam sau khi được giải cứu a) Khi nhận được thông báo từ cơ quan, tổ chức đã tiếp nhận thông tin, tài liệu về người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Phòng, chống mua bán người, Công an cấp tỉnh nơi người nước ngoài đang có mặt có trách nhiệm tổ chức xác minh, giải cứu; Trường hợp thông qua hoạt động nghiệp vụ mà phát hiện người nước ngoài có dấu hiệu bị mua bán tại Việt Nam, cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có trách nhiệm giải cứu; b) Sau khi giải cứu người nước ngoài, Công an cấp tỉnh, cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân tiến hành sơ cứu, cấp cứu nếu người đó bị thương tích, tổn hại sức khỏe, thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch theo quy định tại Chương III Nghị định này; trong thời hạn 02 ngày làm việc, đưa người đó đến Sở Y tế nơi người đó được giải cứu; Sở Y tế sau khi tiếp nhận người được giải cứu căn cứ nhu cầu của họ để thực hiện hỗ trợ theo quy định tại Chương III Nghị định này; thông báo cho Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Y tế để phối hợp. Trong thời gian chờ xác minh, xác định nạn nhân, Sở Y tế nơi người đó được giải cứu chuyển người đó đến cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Các cơ sở này có trách nhiệm tiếp nhận, thực hiện hỗ trợ các dịch vụ phù hợp theo quy định tại Chương III Nghị định này; c) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày giải cứu người nước ngoài, Công an cấp tỉnh, cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân kiểm tra giấy tờ tùy thân, việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam của người đó; chụp 06 ảnh cỡ 4 cm x 6 cm; hướng dẫn người đó kê khai vào Tờ khai dành cho người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam theo Mẫu số 04 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, lấy lời khai ban đầu để khai thác, thu thập thông tin, tài liệu về tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi mua bán người, phục vụ công tác xác minh, xác định nạn nhân, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp là trẻ em hoặc người không có khả năng tự kê khai, cán bộ tiếp nhận ghi lại theo lời khai của họ. Đối với trường hợp không hiểu, không biết tiếng Việt, Công an cấp tỉnh, cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân hỗ trợ phiên dịch và ghi lại theo nội dung phiên dịch. Thời hạn xác minh được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Phòng, chống mua bán người; d) Trường hợp sau khi xác minh có đủ căn cứ xác định người được giải cứu là nạn nhân, trong thời hạn 02 ngày làm việc, Công an cấp tỉnh, cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân cấp giấy xác nhận là nạn nhân theo Mẫu số 05 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, gửi văn bản đến Sở Y tế nơi người nước ngoài được giải cứu đề nghị thực hiện hỗ trợ theo quy định và thông báo cho cơ quan chuyên môn về ngoại vụ cấp tỉnh và Công an cấp tỉnh thực hiện các công việc để trao trả về nước mà họ là công dân hoặc nước họ thường trú theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này; Trường hợp sau khi xác minh chưa có đủ căn cứ xác định người được giải cứu là nạn nhân, trong thời hạn 02 ngày làm việc, cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân gửi văn bản kèm theo hồ sơ (Tờ khai dành cho nạn nhân là người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam, 03 ảnh và các tài liệu khác nếu có) đến Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao; Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao có công hàm gửi cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam mà nạn nhân là công dân hoặc là người đang thường trú kèm theo thông tin về người nước ngoài, 03 ảnh và các tài liệu khác nếu có, đề nghị xác minh, tiếp nhận và đưa người nước ngoài về nước, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế; đ) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Công an cấp tỉnh, cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Sở Y tế nơi người nước ngoài được giải cứu có trách nhiệm gửi văn bản thông báo cơ quan chuyên môn về ngoại vụ cấp tỉnh và Công an cấp tỉnh thực hiện các công việc để trao trả về nước mà họ là công dân hoặc nước họ thường trú; e) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Sở Y tế nơi người nước ngoài được giải cứu, cơ quan chuyên môn về ngoại vụ cấp tỉnh phối hợp với Công an cấp tỉnh kiểm tra hồ sơ của người nước ngoài được xác định là nạn nhân (Tờ khai dành cho nạn nhân là người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam, 03 ảnh, giấy xác nhận nạn nhân và các tài liệu khác nếu có) và gửi văn bản kèm theo hồ sơ cho Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao; g) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do cơ quan chuyên môn về ngoại vụ cấp tỉnh chuyển đến, Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao gửi công hàm đến cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam mà nạn nhân là công dân hoặc là người đang thường trú kèm theo Tờ khai dành cho nạn nhân là người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam, 03 ảnh, giấy xác nhận nạn nhân và các tài liệu khác (nếu có) đề nghị bảo hộ công dân, xác minh và làm thủ tục đưa nạn nhân về nước; h) Khi nhận được công hàm của cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam trả lời đồng ý nhận trở về, kèm theo giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh đã được cấp cho nạn nhân, trong thời hạn 03 ngày làm việc, Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thống nhất với phía nước ngoài về thời gian, cửa khẩu, phương tiện chuyên chở nạn nhân về nước; thông báo bằng văn bản và chuyển giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh của nạn nhân cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an; i) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao, Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an có trách nhiệm cấp thị thực, chứng nhận tạm trú cho nạn nhân miễn thu phí (thời hạn thị thực, tạm trú phù hợp với thời hạn đưa người đó về nước); thông báo kế hoạch đưa nạn nhân về nước cho Công an cấp tỉnh, Sở Y tế nơi đang lưu giữ nạn nhân, Công an cửa khẩu sân bay quốc tế hoặc Bộ đội Biên phòng cửa khẩu nơi nạn nhân sẽ xuất cảnh, cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế có liên quan, đồng gửi Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao để phối hợp đưa nạn nhân về nước; chuyển giấy tờ xuất cảnh, nhập cảnh của nạn nhân cho Công an cấp tỉnh; Sở Y tế nơi đang lưu giữ nạn nhân ngay sau khi nhận được kế hoạch đưa người nước ngoài bị mua bán về nước chỉ đạo cơ sở trợ giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân đưa nạn nhân tới cửa khẩu và phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện việc đưa nạn nhân về nước; Tại cửa khẩu đưa nạn nhân về nước, Công an cấp tỉnh nơi nạn nhân được lưu giữ phối hợp với đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu nơi nạn nhân sẽ xuất cảnh, cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam mà nạn nhân là công dân hoặc thường trú, các tổ chức quốc tế có liên quan để thực hiện các thủ tục xuất cảnh cho nạn nhân. 2. Việc tiếp nhận, xác minh người nước ngoài đến trình báo là nạn nhân a) Cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận người nước ngoài đến trình báo họ là nạn nhân bị mua bán tại Việt Nam có trách nhiệm đưa ngay người đó đến cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân nơi cơ quan tiếp nhận có trụ sở để tiến hành xác minh; b) Sau khi tiếp nhận người nước ngoài được cơ quan, tổ chức tại điểm a khoản 2 Điều này chuyển đến, cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân tiến hành sơ cứu, cấp cứu nếu người đó bị thương tích, tổn hại sức khỏe, thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch theo quy định tại Chương III Nghị định này; trong thời hạn 02 ngày làm việc, đưa người đó đến Sở Y tế nơi cơ quan tiếp nhận có trụ sở để thực hiện việc hỗ trợ theo quy định; c) Sở Y tế nơi người nước ngoài đến trình báo căn cứ nhu cầu của họ để thực hiện hỗ trợ theo quy định tại Chương III Nghị định này; thông báo cho Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Y tế để phối hợp. Trong thời gian chờ xác minh, xác định nạn nhân, Sở Y tế cấp tỉnh nơi người nước ngoài đến trình báo chuyển người đó đến cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Các cơ sở này có trách nhiệm tiếp nhận, thực hiện hỗ trợ các dịch vụ phù hợp theo quy định tại Chương III Nghị định này; d) Việc xác minh nạn nhân, hỗ trợ và trao trả người nước ngoài đến trình báo được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Các biện pháp bảo vệ

Điều 12

Tab mới ↗

Điều 12. Các biện pháp bảo vệ Các đối tượng quy định tại Điều 34 Luật Phòng, chống mua bán người được áp dụng một hoặc nhiều biện pháp bảo vệ sau đây khi có căn cứ cho rằng họ đang có nguy cơ bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác: 1. Bố trí nơi tạm lánh an toàn a) Trường hợp có căn cứ cho rằng, các đối tượng được bảo vệ có nguy cơ bị đe dọa tính mạng, sức khỏe thì các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại Điều 13 Nghị định này bố trí nơi tạm lánh an toàn cho họ; b) Nơi tạm lánh phải bảo đảm các điều kiện cơ bản về ăn, ở, chăm sóc y tế và bảo mật thông tin; 2. Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành vi xâm hại a) Bảo vệ thông tin cá nhân, nơi cư trú, nơi làm việc, học tập của người được bảo vệ; b) Bố trí lực lượng bảo vệ tại nơi cư trú, làm việc, học tập, đi lại của người được bảo vệ; c) Kịp thời phát hiện nguy cơ bị đe dọa, xâm hại sức khỏe, tính mạng của người được bảo vệ và áp dụng các biện pháp bảo vệ. Trường hợp không đủ điều kiện để thực hiện các biện pháp bảo vệ thì đề nghị cơ quan Công an, Quân đội hỗ trợ áp dụng biện pháp bảo vệ. 3. Người được bảo vệ từ chối hoặc không chấp hành đầy đủ biện pháp bảo vệ a) Trường hợp có căn cứ cho rằng lý do từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ là chính đáng, cam kết bằng văn bản về việc tự chịu trách nhiệm an toàn của người được bảo vệ thì cơ quan có thẩm quyền không áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người này; b) Trường hợp người được bảo vệ từ chối biện pháp bảo vệ nhưng cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ có căn cứ cho rằng việc từ chối là do bị đe dọa, khống chế, mua chuộc hoặc ép buộc, thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền vẫn tiếp tục áp dụng biện pháp bảo vệ phù hợp, nhằm bảo đảm an toàn cho người đó; c) Trường hợp sau khi có quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ nhưng người đó không thực hiện theo hướng dẫn, quy định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ dẫn đến nguy cơ mất an toàn thì người được bảo vệ phải tự chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra. 4. Việc ghi nhận lý do từ chối và quyết định tiếp tục hay điều chỉnh biện pháp bảo vệ trong các trường hợp nêu tại khoản 3 Điều này phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người được bảo vệ và người áp dụng biện pháp bảo vệ; lưu giữ tại hồ sơ quản lý theo quy định.

Thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ

Điều 13

Tab mới ↗

Điều 13. Thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ 1. Cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và các cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền khác có trách nhiệm áp dụng biện pháp bảo vệ đối với nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, người dưới 18 tuổi đi cùng, người thân thích của họ và cá nhân tham gia phòng, chống mua bán người hoặc hỗ trợ nạn nhân, theo quy định của pháp luật. 2. Thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ được thực hiện như sau: a) Trong Công an nhân dân: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 12 Nghị định này đối với đối tượng được bảo vệ trong vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý; Trưởng Công an cấp xã có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại các khoản 1,2,3 Điều 12 Nghị định này đối với đối tượng được bảo vệ do cơ quan mình tiếp nhận; đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại Điều này áp dụng các biện pháp bảo vệ cho đối tượng được bảo vệ; b) Trong Quân đội nhân dân Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 12 Nghị định này đối với đối tượng được bảo vệ trong vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý; Cục trưởng Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm, Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm Phòng, chống ma túy và tội phạm, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hải đoàn trưởng Hải đoàn Biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng cửa khẩu cảng, Đồn trưởng Đồn biên phòng thuộc Bộ đội Biên phòng có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại các khoản 1,2,3 Điều 12 Nghị định này đối với đối tượng được bảo vệ trong vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý; Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và Pháp luật, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Vùng cảnh sát biển, Trưởng phòng Phòng chống tội phạm vi phạm, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm về ma túy, Hải đoàn trưởng, Hải đội trưởng và Đội trưởng Đội Nghiệp vụ Cảnh sát biển có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 12 Nghị định này đối với đối tượng được bảo vệ trong vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý; Khi cấp trưởng quy định tại Điểm này vắng mặt thì một cấp phó được ủy nhiệm thực hiện các quyền hạn của cấp trưởng quy định tại Điểm này và phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm vụ được giao; c) Cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền khác: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Giám đốc cơ sở trợ giúp xã hội, Giám đốc cơ sở hỗ trợ nạn nhân, Giám đốc Sở Y tế có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 12 Nghị định này đối với đối tượng được bảo vệ do cơ quan mình tiếp nhận; đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại Điều này áp dụng các biện pháp bảo vệ cho đối tượng được bảo vệ; Thủ trưởng Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 12 Nghị định này đối với đối tượng được bảo vệ do cơ quan mình tiếp nhận theo thẩm quyền. 3. Trường hợp nơi cư trú của đối tượng được bảo vệ không thuộc địa phận của cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ thì người có thẩm quyền ra quyết định bảo vệ ủy thác việc tiến hành các biện pháp bảo vệ cho cơ quan cùng cấp tương đương thuộc địa phận nơi đối tượng được bảo vệ cư trú. Cơ quan được ủy thác tiến hành các biện pháp bảo vệ có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ theo ủy thác của cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ cho đối tượng được bảo vệ. 4. Việc áp dụng biện pháp bảo vệ phải được lập thành văn bản, ghi rõ lý do, hình thức, phạm vi, thời gian bảo vệ, người chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và gửi cho các cơ quan, đơn vị liên quan để phối hợp.

Trách nhiệm tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ

Điều 14

Tab mới ↗

Điều 14. Trách nhiệm tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ Người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ có trách nhiệm tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ và có nhiệm vụ, quyền hạn sau: 1. Áp dụng biện pháp bảo vệ khi có căn cứ cho rằng người được bảo vệ bị xâm hại, bị đe dọa xâm hại, có nguy cơ bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác. 2. Được lựa chọn áp dụng một hoặc nhiều biện pháp bảo vệ theo thẩm quyền quy định tại Điều 13 Nghị định này. 3. Yêu cầu đối tượng được bảo vệ chấp hành các quy định để bảo đảm an toàn cho họ trong quá trình bảo vệ. 4. Yêu cầu chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp trong việc áp dụng các biện pháp bảo vệ. 5. Giữ bí mật việc bảo vệ an toàn cho đối tượng được bảo vệ. 6. Lập, quản lý, lưu trữ và khai thác hồ sơ bảo vệ theo quy định.

Áp dụng các biện pháp bảo vệ

Điều 15

Tab mới ↗

Điều 15. Áp dụng các biện pháp bảo vệ 1. Tổ chức, cá nhân đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ phải có văn bản đề nghị gửi cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 13 Nghị định này. Trường hợp khẩn cấp có thể đề nghị trực tiếp hoặc qua điện thoại và các hình thức thông tin, liên lạc khác nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản. Văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ thể hiện rõ thời gian, địa điểm làm văn bản; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quê quán, nghề nghiệp, nơi cư trú của người làm văn bản; đề nghị bảo vệ cho ai; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quê quán, nghề nghiệp, nơi cư trú của người được đề nghị bảo vệ (nếu người làm văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ cho người khác); lý do đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và những nội dung khác có liên quan. 2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ, cơ quan nhận được đề nghị bảo vệ phải xem xét, xác định sự cần thiết áp dụng các biện pháp bảo vệ. Trường hợp có căn cứ để xác định đối tượng được bảo vệ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và cần phải áp dụng biện pháp bảo vệ thì ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải có văn bản trả lời tổ chức, cá nhân đề nghị bảo vệ biết rõ lý do. 3. Trong quá trình thụ lý vụ việc nếu có căn cứ để xác định đối tượng được bảo vệ bị xâm hại, bị đe dọa xâm hại, có nguy cơ bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác và cần phải áp dụng biện pháp bảo vệ thì người có thẩm quyền quy định tại Nghị định này ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ. 4. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ thể hiện rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; tên cơ quan có trách nhiệm bảo vệ; họ tên, chức vụ của người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quê quán, nghề nghiệp, nơi cư trú của người được bảo vệ; các biện pháp bảo vệ được áp dụng; thời gian bắt đầu áp dụng biện pháp bảo vệ và những nội dung khác có liên quan đến việc bảo vệ. 5. Trường hợp đối tượng được bảo vệ bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe hoặc trường hợp khác cần triển khai ngay biện pháp bảo vệ, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ có thể điều động lực lượng, phương tiện đến bảo vệ hoặc bố trí nơi tạm lánh để bảo đảm an toàn cho đối tượng được bảo vệ trước khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. 6. Trong quá trình bảo vệ, nếu phát sinh yêu cầu cần áp dụng thêm biện pháp bảo vệ thì trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ ra quyết định bổ sung quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. 7. Khi người được bảo vệ không còn bị xâm hại, bị đe dọa xâm hại, có nguy cơ bị xâm hại thì trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ. Quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ phải ghi rõ lý do chấm dứt biện pháp bảo vệ. 8. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, quyết định bổ sung quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ được gửi cho đối tượng được bảo vệ, cơ quan yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ và các cơ quan, đơn vị có liên quan.

Hồ sơ áp dụng biện pháp bảo vệ

Điều 16

Tab mới ↗

Điều 16. Hồ sơ áp dụng biện pháp bảo vệ Hồ sơ áp dụng biện pháp bảo vệ bao gồm: 1. Văn bản đề nghị bảo vệ. 2. Lý lịch cá nhân của người được bảo vệ. 3. Tài liệu thể hiện đối tượng được bảo vệ bị xâm hại, có nguy cơ bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản. 4. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. 5. Quyết định bổ sung áp dụng biện pháp bảo vệ (nếu có). 6. Các biện pháp bảo vệ đã được áp dụng, kết quả thực hiện. 7. Quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ. 8. Các văn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ. Chương III ĐỐI TƯỢNG, CHẾ ĐỘ, TRÌNH TỰ THỰC HIỆN HỖ TRỢ

Về toàn văn Nghị định hướng dẫn Luật Phòng, chống mua bán người

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp