Thông tư Quy định hoạt động thống kê ngành khoa học và công nghệ Chương II — HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ VÀ ĐIỀU TRA THỐNG KÊ NGÀNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Điều 4. Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ
1. Hệ thống chỉ liệu thống kê ngành khoa học và công nghệ là tập hợp các chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình, nguồn lực, kết quả và hiệu quả ngành khoa học và công nghệ, được ban hành để thống nhất trong thu thập và công bố số liệu thống kê ngành khoa học và công nghệ.
2. Các chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ được xây dựng trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và phản ánh các lĩnh vực chủ yếu sau đây:
a) Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
b) Ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và doanh nghiệp;
c) Sở hữu trí tuệ;
d) Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng;
đ) Năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân;
e) Bưu chính, viễn thông;
g) Chuyển đổi số;
h) Công nghiệp công nghệ số;
i) Tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế.
3. Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này, bao gồm:
a) Danh mục chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ;
b) Nội dung chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ.
4. Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành khoa học và công nghệ được rà soát, cập nhật, điều chỉnh khi có thay đổi về yêu cầu quản lý, thực tiễn phát triển ngành hoặc chuẩn mực thống kê quốc tế, bảo đảm phù hợp với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các quy định của pháp luật có liên quan.
Điều 5. Điều tra thống kê về khoa học và công nghệ
1. Điều tra thống kê về khoa học và công nghệ là hoạt động thu thập dữ liệu, thông tin thống kê về khoa học và công nghệ theo phương pháp thống kê do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định và theo quy định của pháp luật.
2. Điều tra thống kê về khoa học và công nghệ định kỳ
a) Được thực hiện theo kế hoạch hàng năm hoặc theo chu kỳ do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt;
b) Các cuộc điều tra định kỳ nhằm thu thập thông tin thống kê về các lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ, nhưng không thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia;
c) Mỗi cuộc điều tra định kỳ phải có phương án điều tra được xây dựng, thẩm định và phê duyệt theo quy định hiện hành, trong đó xác định rõ: mục đích, phạm vi, đối tượng, thời gian, phương pháp thu thập, biểu mẫu báo cáo và trách nhiệm của các đơn vị liên quan;
d) Danh mục các cuộc điều tra thống kê về khoa học và công nghệ định kỳ được quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này.
3. Điều tra thống kê về khoa học và công nghệ đột xuất
a) Điều tra thống kê về khoa học và công nghệ đột xuất được thực hiện khi phát sinh nhu cầu cấp thiết phục vụ công tác quản lý, hoạch định chính sách, hoặc giám sát, đánh giá các chương trình, nhiệm vụ đặc thù của Bộ Khoa học và Công nghệ;
b) Các cuộc điều tra đột xuất được tiến hành khi có biến động lớn về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hoặc khi cần cập nhật thông tin chuyên đề, số liệu phục vụ báo cáo tổng hợp, phân tích, đánh giá, dự báo;
c) Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quyết định tổ chức điều tra đột xuất trong đó quy định rõ phạm vi, đối tượng, thời gian và phương án thực hiện; bảo đảm không chồng chéo, trùng lặp với các cuộc điều tra khác và tuân thủ quy định của pháp luật về thống kê.
4. Thời gian gửi Phiếu điều tra thống kê
a) Phiếu điều tra thống kê phải được gửi đúng thời hạn quy định trong phương án điều tra đã được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt;
b) Trường hợp cần điều chỉnh tiến độ thực hiện hoặc gửi Phiếu điều tra chậm so với thời hạn do yếu tố khách quan, đơn vị tham gia điều tra phải gửi văn bản báo cáo (bằng giấy hoặc điện tử) nêu rõ lý do, thời gian dự kiến hoàn thành và được cơ quan chủ trì điều tra xem xét, chấp thuận;
c) Việc gửi Phiếu điều tra chậm chỉ được chấp thuận trong trường hợp có lý do chính đáng, bao gồm: sự cố kỹ thuật của hệ thống thu thập dữ liệu; yêu cầu rà soát, xác minh số liệu; hoặc yếu tố bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh, mất điện, yêu cầu đột xuất của cơ quan có thẩm quyền. Việc chậm gửi Phiếu điều tra không được làm ảnh hưởng đến tiến độ tổng hợp và công bố kết quả điều tra;
d) Việc gửi Phiếu điều tra chậm ngoài các trường hợp nêu tại điểm b và điểm c khoản này làm ảnh hưởng đến tiến độ tổng hợp và công bố kết quả điều tra sẽ bị xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê.
5. Tổ chức điều tra thống kê về khoa học và công nghệ
a) Cục Thông tin, Thống kê thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, ngành và địa phương xây dựng kế hoạch, phương án điều tra thống kê định kỳ hoặc đột xuất, xin ý kiến thẩm định, trình Bộ trưởng phê duyệt theo quy định hiện hành trước khi công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Khoa học và Công nghệ (trừ nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước); tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện; thu thập, xử lý, tổng hợp và báo cáo kết quả điều tra thống kê về khoa học và công nghệ trình Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ;
b) Các đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm phối hợp với Cục Thông tin, Thống kê tổ chức thực hiện điều tra thống kê về khoa học và công nghệ theo quy định tại điểm a khoản này,
Chế độ báo cáo thống kê ngành khoa học và công nghệ
Điều 6. Chế độ báo cáo thống kê ngành khoa học và công nghệ
1. Chế độ báo cáo thống kê ngành khoa học và công nghệ quy định về nội dung, biểu mẫu, phương thức, thời hạn và trách nhiệm thực hiện báo cáo thống kê trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành, nhằm thu thập, tổng hợp và cung cấp thông tin, số liệu thống kê phục vụ công tác quản lý nhà nước và tổng hợp các chỉ tiêu thống kê theo quy định của pháp luật.
2. Nội dung chế độ báo cáo thống kê ngành khoa học và công nghệ quy định lại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này.
3. Đơn vị báo cáo
a) Đơn vị báo cáo là tổ chức, cơ quan, đơn vị thuộc đối tượng áp dụng chế độ báo cáo thống kê;
b) Tên đơn vị báo cáo được ghi tại góc trên bên phải của biểu mẫu báo cáo. Cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm lập và gửi báo cáo thống kê phải ghi đúng tên cơ quan, đơn vị minh tại vị trí này và chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của số liệu báo cáo theo quy định của pháp luật về thống kê.
4. Đơn vị nhận báo cáo
Đơn vị nhận báo cáo là cơ quan, tổ chức được xác định cụ thể tại góc trên bên phải của từng biểu mẫu báo cáo, ngay dưới dòng “Đơn vị báo cáo”, phù hợp với phân cấp và thẩm quyền thực hiện chế độ báo cáo thống kê.
5. Kỳ báo cáo thống kê
a) Kỳ báo cáo thống kê là khoảng thời gian được quy định để đơn vị báo cáo tổng hợp và cung cấp số liệu thống kê theo các chỉ tiêu, tiêu chí trong biểu mẫu báo cáo;
b) Kỳ báo cáo thống kê được ghi rõ trong từng biểu mẫu báo cáo và được tính theo ngày dương lịch.
6. Thời hạn gửi báo cáo thống kê
a) Thời hạn gửi báo cáo thống kê là thời điểm chậm nhất mà đơn vị báo cáo phải hoàn thành và gửi báo cáo đến đơn vị nhận báo cáo theo quy định;
b) Thời hạn gửi báo cáo được ghi cụ thể tại góc trên bên trái của từng biểu mẫu, ngay dưới dòng ký hiệu biểu mẫu, và được tính theo ngày làm việc;
c) Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn báo cáo trùng với ngày nghỉ lễ, Tết hoặc ngày nghỉ hằng tuần, thời hạn gửi báo cáo được chuyển sang ngày làm việc tiếp theo ngay sau kỳ nghỉ đó.
7. Phương thức gửi báo cáo thống kê
a) Báo cáo thống kê được cập nhật và gửi trực tuyến thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bằng tài khoản truy cập được cấp cho đơn vị báo cáo;
b) Báo cáo thống kê được gửi qua Trục liên thông văn bản quốc gia về đơn vị nhận báo cáo hoặc nộp trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính đến đơn vị nhận báo cáo trong các trường hợp sau:
- Hệ thống trực tuyến không truy cập được hoặc gặp sự cố kỹ thuật, đơn vị báo cáo gửi báo cáo thống kê bản điện tử hoặc bản giấy theo thời hạn quy định tại từng biểu mẫu. Ngay sau khi sự cố được khắc phục, đơn vị báo cáo có trách nhiệm nhập lại thông tin lên Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm bảo đảm tính toàn vẹn và tập trung dữ liệu trên hệ thống.
- Đơn vị báo cáo hoặc đơn vị nhận báo cáo thống kê chưa đáp ứng yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, an toàn thông tin.
c) Báo cáo phải được ký số (đối với báo cáo bản điện tử) hoặc có chữ ký của Thủ trưởng, đóng dấu của cơ quan, đơn vị (đối với báo cáo bản giấy) để bảo đảm tính chính xác của số liệu, thuận tiện cho việc kiểm tra, đối chiếu, xử lý số liệu.
Chỉnh lý báo cáo thống kê và Phiếu điều tra thống kê
Điều 7. Chỉnh lý báo cáo thống kê và Phiếu điều tra thống kê
1. Việc chỉnh lý, bổ sung báo cáo thống kê hoặc Phiếu điều tra thống kê được thực hiện khi phát hiện số liệu, thông tin còn thiếu, sai lệch hoặc chưa bảo đảm tính chính xác, hợp lý, thống nhất giữa các kỳ báo cáo hoặc giữa các nguồn số liệu thống kê.
2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm chủ động rà soát, chỉnh lý, bổ sung nội dung báo cáo thống kê hoặc Phiếu điều tra thống kê khi phát hiện sai sót, không thống nhất; đồng thời thực hiện chỉnh lý, bổ sung khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan nhận báo cáo hoặc cơ quan chủ trì điều tra.
3. Việc chỉnh lý, bổ sung báo cáo thống kê hoặc Phiếu điều tra thống kê phải hoàn thành trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện sai sót hoặc kể từ khi nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; trường hợp đặc biệt, đơn vị thực hiện báo cáo hoặc đơn vị tham gia điều tra phải gửi văn bản (bằng giấy hoặc điện tử) nêu rõ lý do, thời gian dự kiến hoàn thành và được đơn vị nhận báo cáo thống kê hoặc cơ quan chủ trì điều tra xem xét, chấp nhận.
4. Phương thức gửi báo cáo thống kê và Phiếu điều tra thống kê sau khi chỉnh lý, bổ sung
a) Trường hợp báo cáo thống kê hoặc Phiếu điều tra được thực hiện bằng phương thức điện tử, đơn vị báo cáo hoặc đối tượng điều tra phải cập nhật, thay thế và gửi lại dữ liệu thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định;
b) Trường hợp báo cáo thống kê hoặc Phiếu điều tra được thực hiện bằng văn bản giấy, đơn vị báo cáo hoặc đối tượng điều tra phải gửi lại ban chỉnh lý, bổ sung kèm theo văn bản giải trình, trong đó nêu rõ nội dung, nguyên nhân và thời điểm chỉnh sửa.
5. Cơ quan nhận báo cáo, cơ quan chủ trì điều tra có trách nhiệm kiểm tra, tiếp nhận, xác nhận và cập nhật dữ liệu đã được chỉnh lý, bổ sung vào Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bảo đảm tính thống nhất, đầy đủ, kịp thời và chính xác của số liệu thống kê.
6. Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về chỉnh lý, bổ sung báo cáo thống kê hoặc Phiếu điều tra thống kê được xem là hành vi vi phạm quy định về chế độ báo cáo thống kê, điều tra thống kê và bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN