Đã lưuĐăng ký
Hết hiệu lực

Thông tư Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP ngày 24/4/2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y Chương 3 — MỘT SỐ HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THÚ Y

Điều 6–Điều 9 · 4 điều

Xem văn bản gốc ↗

Hành vi vi phạm quy định về phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh cho động vật

Điều 6

Điều 6. Hành vi vi phạm quy định về phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh cho động vật 1. Vi phạm quy định về phòng bệnh, chữa bệnh cho động vật trên cạn: a) Hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 9 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP được hiểu là hành vi không tuân thủ các quy định về điều kiện vệ sinh thú y, khai báo dịch bệnh, tiêm phòng, kiểm dịch động vật, chẩn đoán bệnh quy định tại bản Quy định vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật được ban hành kèm theo Quyết định số 66/2008/QĐ-BNN ngày 26/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. b) Hành vi vi phạm quy định tại khoản 6 Điều 9 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP được hiểu là hành vi vứt, bỏ động vật bị mắc bệnh, bị chết vì bệnh ra môi trường, ao, hồ, kênh, rạch, sông, ngòi hay các nguồn nước tự nhiên khác mà không thực hiện tiêu hủy theo đúng quy định. Việc xác định động vật bị mắc bệnh, bị chết vì bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được căn cứ vào kết quả chẩn đoán lâm sàng của nhân viên thú y, cơ quan thú y có thẩm quyền được tiến hành tại địa điểm VPHC mà không cần có kết quả xét nghiệm phi lâm sàng. 2. Vi phạm quy định về chống dịch bệnh cho động vật trên cạn: a) Hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP được hiểu là hành vi sử dụng phương tiện vận chuyển không đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y để vận chuyển động vật đi giết mổ bắt buộc, có khả năng làm rơi, vãi thức ăn, chất thải của động vật trên đường đi hoặc vận chuyển động vật mắc bệnh dịch từ phương tiện vận chuyển đã được cơ quan thú y có thẩm quyền kiểm tra, chấp thuận sang phương tiện chưa được kiểm tra, vệ sinh, tiêu độc hoặc tự ý dừng đỗ phương tiện vận chuyển không đúng nơi quy định, để động vật mắc bệnh tiếp xúc với động vật khỏe mạnh khác trên đường đến nơi giết mổ được chỉ định. b) Hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 10 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP được hiểu là hành vi sử dụng xe không phải là xe chuyên dụng để vận chuyển động vật hoặc sử dụng xe chuyên dụng nhưng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y theo quy định hoặc không thực hiện vệ sinh, khử trùng, tiêu độc phương tiện sau vận chuyển động vật hoặc nơi giết mổ không đảm bảo các điều kiện vệ sinh thú y, không thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc sau giết mổ theo hướng dẫn của cơ quan thú y. c) Hành vi vi phạm quy định tại điểm e khoản 3 Điều 10 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP bao gồm các hành vi sau đây: Giết mổ, xử lý động vật, xác động vật mắc bệnh hoặc nghi mắc bệnh, sản phẩm động vật mang mầm bệnh thuộc Danh mục bệnh phải công bố dịch không đúng địa điểm được chỉ định, không theo đúng quy định; Không chôn, đốt động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh; xác động vật chết vì bệnh mà theo quy định phải tiêu hủy hoặc chôn không đúng độ sâu, không đúng kỹ thuật, nơi chôn gần các nguồn nước tự nhiên, nước sinh hoạt; Không xử lý nơi chôn, đốt động vật theo đúng hướng dẫn của cơ quan thú y có thẩm quyền.

Hành vi vi phạm quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y

Điều 7

Điều 7. Hành vi vi phạm quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y 1. Vi phạm quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn lưu thông trong nước: Hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi vận chuyển, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật thuộc Danh mục đối tượng kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật nhưng chủ hàng hoặc người điều khiển phương tiện vận chuyển không xuất trình được Giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật do cơ quan thú y có thẩm quyền cấp. Trong trường hợp hành vi vi phạm này xảy ra tại thời điểm có bất kỳ một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong phạm vi cả nước đang công bố có dịch bệnh trên loài động vật đó thì người có thẩm quyền xử phạt VPHC phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc tiêu hủy động vật, sản phẩm động vật nếu chủ hàng không chứng minh được nguồn gốc của động vật, sản phẩm động vật, cụ thể là không xuất trình được giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã về nguồn gốc động vật, sản phẩm động vật. 2. Hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi vận chuyển con giống thủy sản ra khỏi cơ sở sản xuất, kinh doanh con giống mà không được cơ quan thú y có thẩm quyền kiểm dịch và cấp giấy chứng nhận kiểm dịch. Trong trường hợp con giống thủy sản đã được kiểm dịch thì chủ hàng khi bán con giống phải cung cấp bản photo giấy chứng nhận kiểm dịch do cơ quan thú y có thẩm quyền cấp cho người mua. 3. Vi phạm quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất khẩu, nhập khẩu, tạm xuất tái nhập, tạm nhập tái xuất, chuyển cửa khẩu, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam. a) Hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi cá nhân mang theo người, hành lý các loại động vật, sản phẩm động vật với khối lượng, số lượng vượt quá khối lượng, số lượng cho phép; sản phẩm có nguồn gốc từ động vật mà chưa qua chế biến công nghiệp; động vật, sản phẩm động vật thuộc loại luật pháp quốc tế cấm lưu thông, vận chuyển hoặc không xuất trình được giấy chứng nhận kiểm dịch hợp lệ do cơ quan thú y quốc gia nước xuất khẩu cấp. b) Hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi không xuất trình được với cơ quan kiểm dịch động vật cửa khẩu bộ hồ sơ kiểm dịch hợp lệ đối với lô hàng hóa đó. Một bộ hồ sơ kiểm dịch không hợp lệ có thể là: Thiếu giấy chứng nhận kiểm dịch hoặc có giấy chứng nhận kiểm dịch nhưng thiếu chữ ký; có giấy chứng nhận kiểm dịch nhưng nội dung không đúng với thực tế về loài, số lượng động vật hoặc các thông tin về sản phẩm động vật như ngày sản xuất, hạn sử dụng…; nội dung bị tẩy xóa, sửa chữa; sử dụng giấy chứng nhận kiểm dịch không do cơ quan thú y có thẩm quyền cấp; thiếu một trong các giấy tờ khác có liên quan đến việc xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển cửa khẩu quá cảnh lãnh thổ Việt Nam đối với lô hàng hóa đó. c) Hành vi vi phạm quy định tại điểm e khoản 3 Điều 14 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là các hành vi: Để động vật đang trong thời gian cách ly kiểm dịch tiếp xúc với các động vật nội địa khác; Xuất bán, sử dụng làm giống động vật, sản phẩm động vật chưa hết thời gian cách ly kiểm dịch; Không tiêm phòng các bệnh thuộc Danh mục các bệnh phải tiêm phòng đối với động vật trong thời gian cách ly kiểm dịch; Không chấp hành việc lấy mẫu xét nghiệm bệnh của cơ quan thú y có thẩm quyền; Không đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh thú y trong thời gian cách ly kiểm dịch. d) Hành vi vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 14 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi của tổ chức, cá nhân đưa vào lãnh thổ của Việt Nam khi chưa có văn bản đồng ý của Cục Thú y và không thực hiện kiểm dịch đối với các loại hàng hóa, vật phẩm sau: Các loại bệnh phẩm để phục vụ cho công tác xét nghiệm, chẩn đoán bệnh hoặc sử dụng cho các mục đích khác; Các đối tượng thuộc Danh mục đối tượng kiểm dịch, bao gồm vi sinh vật, ký sinh trùng gây bệnh động vật, vi sinh vật gây ô nhiễm, các hóa chất độc hại, các đối tượng khác được quy định tại Quyết định số 45/2005/QĐ-BNN ngày 25/7/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. e) Hành vi giết mổ động vật, sơ chế sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc xuất xứ quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 15 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi giết mổ động vật không có giấy chứng nhận kiểm dịch hoặc không có giấy xác nhận nguồn gốc của thú y xã hoặc không có giấy chứng nhận tiêm phòng của cơ quan thú y ở địa phương; sơ chế sản phẩm động vật không có giấy chứng nhận kiểm dịch nhập khẩu hoặc không có tem vệ sinh thú y của cơ quan thú y, cơ quan kiểm dịch có thẩm quyền. g) Hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 16 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh động vật thủy sản, sản phẩm động vật tươi sống mà kết quả kiểm tra của cơ quan thú y có thẩm quyền cho thấy bị nhiễm khuẩn hoặc có chất tồn dư vượt quá giới hạn cho phép. Tùy từng trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt có thể cho phép chuyển mục đích sử dụng như làm thức ăn chăn nuôi đối với động vật thủy sản, sản phẩm động vật tươi sống bị nhiễm khuẩn hoặc có chất tồn dư quá giới hạn cho phép. Việc xử lý đối với sản phẩm động vật không đạt tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm phải theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Hành vi vi phạm quy định về quản lý thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y, thú y thủy sản (sau đây gọi chung là thuốc thú y)

Điều 8

Điều 8. Hành vi vi phạm quy định về quản lý thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y, thú y thủy sản (sau đây gọi chung là thuốc thú y) 1. Hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 18 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi sản xuất một lô thuốc thú y có chỉ tiêu về lý, hóa, vi sinh, hàm ẩm không đạt hoặc một hoặc nhiều thành phần của thuốc có hàm lượng thực tế thấp hơn hoặc vượt quá sai số cho phép về hàm lượng mà cơ sở đã đăng ký với cơ quan thú y có thẩm quyền khi đăng ký lưu hành hoặc tự công bố theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa. 2. Hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 4 Điều 19 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi kinh doanh một loại thuốc thú y có chỉ tiêu về lý, hóa, vi sinh, hàm ẩm không đạt hoặc có một hoặc nhiều hoạt chất có hàm lượng thực tế thấp hơn hoặc vượt quá mức sai số cho phép mà cơ sở sản xuất đã đăng ký với cơ quan thú y có thẩm quyền khi đăng ký lưu hành sản phẩm hoặc công bố trên nhãn thuốc. 3. Hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 20 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi tổ chức, cá nhân nhập khẩu một lô thuốc, nguyên liệu làm thuốc thú y có chỉ tiêu về lý, hóa, vi sinh, hàm ẩm không đạt hoặc một hoặc nhiều thành phần của thuốc có hàm lượng thực tế thấp hơn hoặc vượt quá sai số cho phép về hàm lượng mà cơ sở đã đăng ký với cơ quan thú y có thẩm quyền khi đăng ký lưu hành sản phẩm hoặc công bố trên nhãn thuốc. 4. Hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 21 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi của tổ chức, cá nhân thông tin, quảng cáo trên nhãn thuốc, trên các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh truyền hình Trung ương hoặc địa phương, pano quảng cáo, tờ rơi, tờ bướm..với những nội dung không đúng về thành phần, công dụng, công hiệu, chức năng hoặc về chất lượng của thuốc đã đăng ký. 5. Hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 23 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi sản xuất, nhập khẩu thuốc thú y thuộc loại hàng hóa phải công bố chất lượng hợp chuẩn, hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật nhưng cơ sở sản xuất, nhập khẩu chưa thực hiện công bố hợp chuẩn, hợp quy hoặc thuốc thú y không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng mà đã tự ý sử dụng tem hợp chuẩn, hợp quy trên sản phẩm hoặc thông tin, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, đài phát thanh truyền hình, tờ rơi, tờ bướm..là đã công bố hợp chuẩn, hợp quy.

Hành vi vi phạm các quy định khác trong lĩnh vực thú y

Điều 9

Điều 9. Hành vi vi phạm các quy định khác trong lĩnh vực thú y 1. Hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1, điểm a khoản 6, điểm a khoản 8 Điều 24 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi của người được cấp chứng chỉ hành nghề có các hoạt động hành nghề thú y khác với lĩnh vực chuyên môn đã được quy định trong chứng chỉ hành nghề do cơ quan thú y có thẩm quyền cấp. 2. Hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5, điểm a khoản 7, điểm a khoản 9 Điều 24 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi tự ý thêm vào, xóa bỏ, làm thay đổi nội dung ban đầu của chứng chỉ hành nghề do cơ quan thú y có thẩm quyền cấp. 3. Hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 5, điểm c khoản 7, điểm b khoản 9 Điều 24 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi kê khai, khai báo gian dối, không trung thực các thông tin về bằng cấp chuyên môn, trình độ chuyên môn, cung cấp bản sao các loại giấy chứng nhận, văn bằng không phải là bản sao do cơ quan có thẩm quyền cấp, chứng thực để được cấp mới hoặc cấp gia hạn chứng chỉ hành nghề thú y. 4. Hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 5, điểm d khoản 7, điểm d khoản 9 Điều 24 của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP là hành vi của cá nhân sử dụng chứng chỉ hành nghề không phải do cơ quan thú y có thẩm quyền cấp để hành nghề. Chương 4 THẨM QUYỀN XỬ PHẠT, TRÌNH TỰ VÀ THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Về toàn văn Thông tư Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 40/2009/NĐ-CP ngày 24/4/2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp