Các loại báo cáo
Điều 6. Các loại báo cáo
1. Đối với báo cáo giá thị trường trong nước
a) Báo cáo tuần, tháng, quý, năm: Sở Tài chính thực hiện báo cáo giá thị trường hàng tuần, tháng, quý, năm. Tuần cuối tháng là báo cáo cả tháng. Các tháng cuối quý (3, 6, 9, 12) là báo cáo giá thị trường tương ứng: 3 tháng, 6, tháng, 9 tháng, 12 tháng (gọi chung là báo cáo dài hạn).
b) Báo cáo đột xuất: Sở Tài chính chủ động thực hiện báo cáo đột xuất khi trên thị trường địa phương có giá một số hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục bình ổn giá quy định tại Thông tư số 104/2008/TT-BTC ngày 13/11/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá, Nghị định 75/2008/NĐ-CP ngày 9/6/2008 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 170/2003/NĐ-CP và Thông tư số 122/2010/TT-BTC ngày 12/8/2010 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 104/2008/TT-BTC hoặc giá một loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu khác tại địa phương xảy ra biến động bất thường.
2. Đối với báo cáo giá hàng hóa nhập khẩu:
Tổng cục Hải quan thực hiện báo cáo giá hàng hóa nhập khẩu 15 ngày, hàng tháng quy định tại Phụ lục số 2 kèm theo Thông tư này và chủ động gửi báo cáo đột xuất khi giá hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục báo cáo giá có biến động bất thường.
Nội dung báo cáo
Điều 7. Nội dung báo cáo
1. Đối với báo cáo giá thị trường trong nước
a) Báo cáo tuần:
- Tổng quan về tình hình thị trường, giá cả trong kỳ báo cáo.
- Phân tích diễn biến, nguyên nhân biến động (hoặc bình ổn) chung của mặt bằng giá và của từng loại giá hàng hóa, dịch vụ cụ thể.
- Thống kê mức giá hàng hóa, dịch vụ theo danh mục quy định tại Phụ lục số 1 (ban hành kèm theo Thông tư này).
b) Báo cáo tháng, quý, năm:
Phần thứ nhất: Tổng quan về tình hình thị trường, giá cả trong kỳ:
- Báo cáo diễn biến của giá thị trường hàng hóa, dịch vụ, phân tích thực trạng, nguyên nhân;
- Dự báo sự vận động của giá cả thị trường trong tháng sau (quý sau, năm sau).
- Thống kê mức giá hàng hóa, dịch vụ theo danh mục quy định tại Phụ lục số 1 (ban hành kèm theo Thông tư này).
Đối với những địa phương có sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp làm nguyên liệu cung cấp cho nông nghiệp chế biến, khi đến vụ thu hoạch, trong báo cáo ngoài những nội dung trên còn phải báo cáo giá mua sản phẩm tại nơi sản xuất, trong đó phân tích diễn biến, nguyên nhân, kiến nghị những giải pháp bình ổn giá theo quy định tại Phụ lục số 1 (ban hành kèm theo Thông tư này).
Phần thứ hai: Đánh giá tình hình thực hiện công tác quản lý chỉ đạo giá của địa phương, bao gồm các nội dung:
- Chủ trương, biện pháp, những công việc đã thực hiện;
- Tác động của những việc đã thực hiện đến giá cả thị trường, đến tình hình kinh tế xã hội của địa phương;
- Những khó khăn, vướng mắc và những kiến nghị về quản lý điều hành giá, bình ổn giá.
c) Báo cáo đột xuất:
- Nhận xét về diễn biến giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ có biến động giá;
- Nguyên nhân và kiến nghị các giải pháp bình ổn thị trường, giá cả;
- Báo cáo phải có biểu thống kê về mức giá của loại hàng hóa, dịch vụ trước và sau ngày có biến động giá.
2. Đối với báo cáo giá hàng hóa nhập khẩu:
- Nhận xét về diễn biến giá hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục báo cáo tại Phụ lục số 2 kèm theo Thông tư này;
- Nguyên nhân tăng, giảm giá hàng hóa nhập khẩu (nếu có); các vấn đề có liên quan khác.