Thông tư Hướng dẫn xử lý hàng hóa bị từ bỏ, thất lạc, nhầm lẫn, quá thời hạn khai hải quan tại cảng biển mà chưa có người đến nhận quy định tại Điều 45 Luật Hải quan và hàng hóa không có người nhận khác Chương IV — XỬ LÝ HÀNG TỒN ĐỌNG
Điều 7. Hội đồng xử lý
1. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo, đề nghị xử lý hàng tồn của Cục hải quan, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh, thành phố ra quyết định thành lập Hội đồng xử lý hàng tồn đọng.
Thành phần Hội đồng xử lý gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng: Lãnh đạo Sở Tài chính;
b) Phó chủ tịch Hội đồng: Giám đốc doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi;
c) Các thành viên:
c.1. Đại diện Cục Hải quan (Phòng Tham mưu chống buôn lậu và xử lý và Chi cục hải quan);
c.2. Đại diện hàng tàu/đại lý hãng tàu (nếu cần thiết);
c.3. Đại diện cơ quan quản lý chuyên ngành, như: Sở Tài nguyên môi trường, Chi cục kiểm dịch,.... (trường hợp việc xử lý hàng tồn đọng có liên quan đến môi trường, kiểm dịch,...)
2. Trong quá trình thực hiện, Chủ tịch Hội đồng có thể giao doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi (Phó chủ tịch Hội đồng) tiến hành xử lý hàng tồn đọng theo hướng dẫn tại mục 1 Chương này, kết thúc xử lý phải có báo cáo cụ thể kết quả với Hội đồng.
3. Hội đồng xử lý được sử dụng con dấu của Sở Tài chính để thực hiện nhiệm vụ và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
4. Căn cứ vào tình hình thực tế hàng hóa tồn đọng tại khu vực cửa khẩu do đơn vị quản lý, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh, thành phố có thể thành lập Hội đồng thường trực để xử lý hàng hoá tồn đọng theo từng giai đoạn trong năm.
5. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nếu thấy cần thiết, Hội đồng xử lý có thể thành lập các bộ phận chuyên môn giúp việc cho Hội đồng (như: kiểm kê, phân loại hàng tồn, thư ký Hội đồng,...) hoặc thuê tổ chức giám định được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật để giám định chất lượng, làm cơ sở xây dựng phương án xử lý tài sản và xác định giá trị tài sản.
Kiểm kê, phân loại và ra quyết định xử lý hàng tồn đọng
Điều 8. Kiểm kê, phân loại và ra quyết định xử lý hàng tồn đọng
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thành lập (hoặc 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, đề nghị xử lý hàng tồn của Cục hải quan đối với tỉnh, thành phố có Hội đồng thường trực), Hội đồng xử lý tiến hành:
1. Mở niêm phong hàng hoá hoặc niêm phong container (nếu có);
2. Kiểm tra, phân loại hàng tồn đọng;
3. Xác định giá trị hàng hóa tồn đọng;
4. Lập Biên bản chứng nhận;
5. Ra quyết định tiêu hủy hoặc bán thanh lý (chia thành từng lô hoặc cả lô hàng);
6. Bàn giao hàng tồn đọng cho doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi quản lý, chờ xử lý.
Điều 9. Hình thức xử lý
1. Xử lý tiêu huỷ đối với hàng hoá không còn giá trị sử dụng (mục nát, đổ vỡ, hư hỏng, giảm phẩm chất, quá hạn sử dụng, không bảo đảm chất lượng sử dụng) hoặc thuộc diện cấm lưu hành theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Tổ chức bán thanh lý đối với hàng hóa còn giá trị sử dụng.
a) Việc bán hàng tồn đọng được thực hiện thông qua hình thức đấu giá công khai theo quy định của pháp luật, hoặc bán trực tiếp (không thông qua đấu giá) theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.
b) Các trường hợp được phép bán trực tiếp, không thông qua đấu giá:
b.1. Hàng tươi sống, dễ bị ôi thiu, khó bảo quản;
b.2. Hàng thực phẩm đã qua chế biến, thuốc chữa bệnh mà hạn sử dụng còn dưới 30 ngày;
b.3. Các loại hàng hóa khác nếu không xử lý ngay sẽ bị hư hỏng, hết thời hạn sử dụng.
b.4. Hàng hoá theo kết quả định giá có giá trị dưới 100 triệu đồng/lô hàng.
c) Trường hợp hàng hoá quy định tại khoản 2 Điều này thuộc danh mục hàng hóa nhập khẩu có điều kiện hoặc thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu thì Hội đồng xử lý đề nghị cơ quan quản lý chuyên ngành có văn bản cho phép nhập khẩu trước khi thực hiện bán hàng.
Điều 10. Thực hiện quyết định xử lý
1. Đối với hàng hoá phải tiêu huỷ:
a) Doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi chủ trì thực hiện việc tiêu hủy hoặc thuê các tổ chức, đơn vị được cấp giấy phép hành nghề tiêu hủy để thực hiện việc tiêu hủy trong thời hạn do Hội đồng quy định. Việc tiêu huỷ phải được lập thành Biên bản tiêu huỷ và có sự giám sát trực tiếp của Hội đồng xử lý.
Nội dung chủ yếu của Biên bản tiêu huỷ gồm: căn cứ và lý do thực hiện tiêu huỷ; thời gian, địa điểm tiêu huỷ; thành phần tham gia tiêu huỷ; tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của hàng hoá tại thời điểm tiêu huỷ; hình thức tiêu huỷ và các nội dung khác có liên quan.
b) Đối với loại hàng hoá mà việc tiêu huỷ làm ảnh hưởng đến môi trường thì phải được sự chấp thuận và hướng dẫn của cơ quan quản lý môi trường sở tại trước khi tổ chức tiêu huỷ.
2. Đối với hàng bán thanh lý:
a) Đối với hàng hoá bán trực tiếp (không qua đấu giá):
Trên cơ sở giá trị hàng hoá được xác định, Hội đồng xử lý giao doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi bán trực tiếp cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua theo hình thức bán công khai hoặc thuê tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sản) thực hiện việc bán hàng hoá tồn đọng.
Việc bán hàng hoá phải được lập biên bản. Nội dung chủ yếu của biên bản gồm: căn cứ thực hiện bán; thời gian, địa điểm bán; người bán; tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của hàng hoá tại thời điểm bán; đơn giá bán, giá trị thanh toán; người mua và các nội dung khác có liên quan.
b) Đối với hàng hoá bán đấu giá:
b.1. Giá khởi điểm để tổ chức bán đấu giá là giá do Hội đồng xử lý xác định trên cơ sở trị giá hàng tồn đọng (đã có thuế) theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 36a Nghị định số 18/2009/NĐ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ.
b.2. Hội đồng xử lý giao doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi trực tiếp tổ chức bán đấu giá hoặc thuê các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sản) thực hiện việc bán đấu giá đối với số hàng hoá tồn đọng.
b.3. Trình tự, thủ tục bán đấu giá hàng hoá tồn đọng được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
c) Kết thúc việc bán hàng hóa quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này, doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi báo cáo kết quả và đề nghị Hội đồng xử lý ra Quyết định bán hàng.
d) Người mua được hàng hóa quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này có trách nhiệm thanh toán tiền mua hàng cho doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, không phải làm thủ tục nhập khẩu, không phải nộp các loại thuế và lệ phí nhập khẩu.
3. Khi bán hàng hoá tồn đọng quy định tại khoản 2 Điều này, Hội đồng xử lý có trách nhiệm cung cấp bộ chứng từ cho người mua, gồm:
a) Hóa đơn bán tài sản tịch thu, sung công quỹ nhà nước theo mẫu số 01/TSSQ-3L.04 ban hành kèm theo Quyết định số 12/2004/QĐ-BTC ngày 09 tháng 01 năm 2004 của Bộ Tài chính: 01 bản chính;
b) Quyết định bán hàng tồn đọng: 01 bản chính;
c) Phiếu xuất kho của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi: 01 bản chính;
d) Văn bản cho phép của cơ quan có thẩm quyền đối với mặt hàng nhập khẩu có điều kiện (nếu có): 01 Bản sao;
Các bản sao phải được Chủ tịch Hội đồng ký xác nhận và đóng dấu.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ bộ chứng từ mua hàng, nếu người mua không đến nhận hàng hoặc không đưa hàng hóa ra khỏi khu vực cửa khẩu, mà không có lý do chính đáng, thì Hội đồng tổ chức xử lý lại lô hàng tồn đọng theo hướng dẫn tại Chương IV Thông tư này.
Mục 2. Quản lý tài chính sau khi xử lý
Điều 11. Quản lý tài chính sau khi xử lý
Toàn bộ tiền thu được từ việc bán hàng tồn đọng được người mua thanh toán và doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng theo quy định tại Điều 12 và 13 Thông tư này.
Điều 12. Nội dung chi liên quan
1. Chi thuê các dịch vụ liên quan đến xử lý hàng hoá tồn đọng bao gồm:
a) Kiểm kê, phân loại hàng hoá;
b) Giám định chất lượng, trị giá hàng hóa;
c) Đăng tải thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng;
d) In ấn tài liệu hồ sơ bán đấu giá, phí bán đấu giá (trong trường hợp thuê các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp thực hiện).
2. Chi phí cho các dịch vụ kho bãi, gồm:
a) Phí lưu kho, bãi (lưu hàng hóa và lưu container - nếu có) tính từ ngày Cục trưởng Cục hải quan ra Quyết định tịch thu;
b) Chi phí nâng hạ, bốc xếp trong quá trình bán hàng;
c) Chi phí giao nhận và bảo quản hàng hóa trong quá trình bán hàng.
Chi phí cho các dịch vụ kho bãi chỉ được áp dụng đối với hàng hóa còn giá trị sử dụng và được Hội đồng xử lý bán thanh lý.
3. Chi bồi dưỡng cho các thành viên của Hội đồng trong quá trình bán hàng tồn đọng (kiểm kê, phân loại, giám định, định giá, lập phương án, tổ chức bán hàng) thực hiện theo chế độ công tác phí do Bộ Tài chính quy định. Ngày thanh toán là số ngày thực tế các thành viên thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng.
4. Chi phí tổ chức tiêu hủy.
Điều 13. Quyết toán tài chính
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc việc xử lý (ngày hoàn thành việc tiêu hủy hoặc ngày ra quyết định bán hàng), doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi tổng hợp các khoản chi, kèm hồ sơ, chứng từ có liên quan, báo cáo Hội đồng xử lý phê duyệt. Việc chi trả được thực hiện đúng theo thứ tự ưu tiên tuần tự từ khoản 1 đến khoản 3 Điều 12 Thông tư này. Nếu lô hàng có một phần hàng bán thanh lý, một phần phải xử lý tiêu hủy thì chi phi tổ chức tiêu hủy được ưu tiên thanh toán trước.
Trường hợp chưa có nguồn kinh phí để thực hiện chi trả, thì doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi ứng trước kinh phí để thực hiện chi trả.
2. Số tiền thu được từ việc bán hàng hoá tồn đọng, sau khi đã trừ đi các chi phí quy định tại Điều 12, doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi có trách nhiệm nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày kết thúc việc chi trả. Nếu doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi có hành vi chậm nộp khoản tiền này so với thời hạn quy định thì sẽ bị xử phạt 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền chậm nộp. Việc xử phạt do Chủ tịch Hội đồng xử lý ra quyết định.
3. Trong trường hợp tiền thu được từ việc xử lý hàng không đủ bù chi thì doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi được bù trừ khi xử lý lô hàng kế tiếp, nếu tiếp tục không đủ bù chi thì được chuyển sang năm sau.
Chương V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN