Thông tư Quy định trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chương 2 — CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 7. Chuẩn bị lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Để làm cơ sở cho việc lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các đơn vị thực hiện các hoạt động sau:
1. Rà soát chủ trương, chính sách của Đảng; pháp luật của Nhà nước có liên quan đến nội dung dự kiến soạn thảo để làm rõ sự cần thiết, cơ sở pháp lý và sự phù hợp với chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
2. Rà soát những văn bản quy phạm pháp luật liên quan có hiệu lực pháp lý cao hơn, các cam kết trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo và xác định những vấn đề cần được điều chỉnh hoặc sửa đổi, bổ sung, thay thế.
3. Tổ chức nghiên cứu, khảo sát, hội thảo, thảo luận, thống kê đánh giá tình hình thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế và đánh giá tác động sơ bộ (nếu cần).
Điều 8. Lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh
Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện:
1. Chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm hoặc của cả nhiệm kỳ Quốc hội theo quy định tại khoản 1 Điều 3, Điều 4 và Điều 5 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.
2. Trong trường hợp cần thiết, trình Thống đốc tổ chức cuộc họp với các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước, bộ, ngành có liên quan để cho ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.
3. Trình Thống đốc ký gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ để xin ý kiến theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.
4. Trình Thống đốc hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm hoặc của cả nhiệm kỳ Quốc hội để gửi Bộ Tư pháp theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.
Điều 9. Lập đề nghị xây dựng nghị định
1. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước:
a) Căn cứ khoản 2 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP và chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình lập đề xuất xây dựng nghị định trình Thống đốc hoặc Phó Thống đốc phụ trách cho ý kiến;
b) Chuẩn bị đề nghị xây dựng nghị định theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP;
c) Xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP;
d) Trình Thống đốc ký gửi hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định đến Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ để xin ý kiến theo quy định tại khoản 6 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP;
đ) Gửi hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định của năm sau đến Vụ Pháp chế chậm nhất là ngày 01 tháng 7 hàng năm.
2. Trách nhiệm của Vụ Pháp chế:
a) Thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản 5 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP;
b) Xem xét, tổng hợp đề nghị xây dựng nghị định của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước trình Thống đốc để gửi Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp chậm nhất là ngày 01 tháng 8 hàng năm.
Điều 10. Chương trình xây dựng thông tư
1. Chậm nhất ngày 01 tháng 10 hàng năm, Vụ Pháp chế có văn bản đề nghị các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước đề xuất xây dựng thông tư dự kiến ban hành trong năm tiếp theo.
2. Các đơn vị căn cứ chức năng, nhiệm vụ lập đề nghị xây dựng thông tư của năm tiếp theo trình Thống đốc hoặc Phó Thống đốc phụ trách cho ý kiến và gửi Vụ Pháp chế chậm nhất ngày 01 tháng 11 hàng năm.
Nội dung đề nghị xây dựng thông tư cần nêu rõ: tên thông tư, sự cần thiết ban hành, căn cứ ban hành, đối tượng áp dụng, phạm vi điều chỉnh, nội dung cơ bản, đơn vị chủ trì soạn thảo, thời gian dự kiến ban hành và kế hoạch soạn thảo đối với từng văn bản.
Kế hoạch soạn thảo văn bản phải dự kiến tối thiểu các thời điểm sau: xây dựng dự thảo thông tư; lấy ý kiến đối với dự thảo thông tư; gửi Vụ Pháp chế thẩm định dự thảo thông tư; trình Thống đốc ký ban hành thông tư.
3. Vụ Pháp chế xem xét, tổng hợp đề nghị xây dựng thông tư của các đơn vị. Trường hợp cần làm rõ nội dung dự kiến xây dựng thông tư, Vụ Pháp chế trao đổi hoặc có văn bản đề nghị đơn vị giải trình hoặc tổ chức họp để thảo luận về đề nghị xây dựng thông tư của các đơn vị.
4. Chậm nhất ngày 01 tháng 12 hàng năm, Vụ Pháp chế dự thảo chương trình xây dựng thông tư trình Thống đốc ký ban hành.
Trường hợp không thống nhất với đơn vị gửi đề nghị xây dựng thông tư về sự cần thiết ban hành, tên gọi hoặc tính khả thi của tiến độ xây dựng văn bản, Vụ Pháp chế không đưa vào hoặc điều chỉnh tại dự thảo chương trình xây dựng thông tư và báo cáo Thống đốc xem xét, quyết định.
Trường hợp nhận thấy cần thiết ban hành thông tư để đáp ứng yêu cầu quản lý hoặc để phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn, Vụ Pháp chế chủ động đề xuất đưa vào chương trình xây dựng thông tư trình Thống đốc xem xét, quyết định.
5. Chương trình xây dựng thông tư sau khi được Thống đốc ký ban hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước.
Đề nghị điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định; điều chỉnh chương trình xây dựng thông tư
Điều 11. Đề nghị điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định; điều chỉnh chương trình xây dựng thông tư
1. Đề nghị điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định:
a) Đề nghị điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định được thực hiện theo các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP;
b) Vụ Pháp chế dự thảo đề nghị bổ sung vào chương trình, đưa ra khỏi chương trình hoặc điều chỉnh thời điểm trình dự án luật, pháp lệnh theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP, trình Thống đốc ký gửi Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;
c) Đơn vị chủ trì soạn thảo trình Thống đốc hoặc Phó Thống đốc phụ trách cho ý kiến đối với đề nghị bổ sung vào chương trình, đưa ra khỏi chương trình hoặc điều chỉnh thời điểm trình dự thảo nghị định theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP, gửi Vụ Pháp chế xem xét, tổng hợp, trình Thống đốc ký văn bản gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp.
2. Điều chỉnh chương trình xây dựng thông tư:
a) Trường hợp bổ sung vào chương trình xây dựng thông tư, các đơn vị thực hiện theo quy trình đề nghị xây dựng thông tư quy định tại Thông tư này;
b) Trường hợp đưa ra khỏi chương trình hoặc điều chỉnh thời điểm trình dự thảo thông tư, đơn vị chủ trì soạn thảo báo cáo Thống đốc hoặc Phó Thống đốc phụ trách nêu rõ lý do, giải pháp khắc phục, kế hoạch soạn thảo văn bản phù hợp với thời điểm dự kiến trình dự thảo và có văn bản gửi Vụ Pháp chế sau khi có ý kiến của Thống đốc hoặc Phó Thống đốc phụ trách;
c) Định kỳ hàng quý, Vụ Pháp chế xem xét, tổng hợp trình Thống đốc quyết định việc điều chỉnh chương trình xây dựng thông tư;
Trường hợp có ý kiến khác về đề nghị điều chỉnh chương trình xây dựng thông tư của các đơn vị, Vụ Pháp chế đề xuất Thống đốc xem xét, quyết định.
d) Quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng thông tư sau khi được Thống đốc ký ban hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước.
Trách nhiệm thực hiện, theo dõi, đôn đốc, báo cáo tiến độ thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Điều 12. Trách nhiệm thực hiện, theo dõi, đôn đốc, báo cáo tiến độ thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Trách nhiệm của đơn vị chủ trì soạn thảo:
a) Đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm bảo đảm tiến độ soạn thảo và chất lượng dự thảo văn bản, kịp thời báo cáo Thống đốc, Phó Thống đốc phụ trách về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng văn bản;
b) Định kỳ chậm nhất ngày 05 hàng tháng, các đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi Vụ Pháp chế báo cáo tình hình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật được giao. Trường hợp tiến độ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của đơn vị bị chậm thì báo cáo phải nêu rõ nguyên nhân và giải pháp khắc phục.
2. Trách nhiệm của Vụ Pháp chế:
a) Căn cứ chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và kế hoạch soạn thảo văn bản quy định tại khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11 Thông tư này, theo dõi, đôn đốc các đơn vị triển khai soạn thảo dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đúng tiến độ; báo cáo Thống đốc những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;
b) Định kỳ chậm nhất ngày 15 của tháng đầu mỗi quý, Vụ Pháp chế có trách nhiệm tổng hợp, trình Thống đốc:
- Báo cáo về tình hình thực hiện chương trình xây dựng thông tư của Ngân hàng Nhà nước;
- Báo cáo về tình hình, tiến độ xây dựng nghị định và những khó khăn vướng mắc trong quá trình xây dựng dự thảo nghị định gửi Văn phòng Chính phủ;
- Báo cáo về tình hình thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và tiến độ xây dựng dự án luật, pháp lệnh gửi Bộ Tư pháp.
Chương 3.
SOẠN THẢO, BAN HÀNH, HỢP NHẤT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
MỤC 1. SOẠN THẢO LUẬT, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI, ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI, NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ, QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ