Thông tư Quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì soạn thảo hoặc ban hành Chương III — SOẠN THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 6. Cơ quan chủ trì soạn thảo thuộc Bộ
1. Cơ quan thuộc Bộ có đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư trong Chương trình xây dựng pháp luật được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Chương II Thông tư này là cơ quan chủ trì soạn thảo.
2. Trường hợp soạn thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tắt là Quyết định) hoặc soạn thảo văn bản theo kiến nghị của tổ chức, cá nhân, Bộ trưởng quyết định giao cho cơ quan thuộc Bộ phụ trách lĩnh vực chuyên ngành có liên quan là cơ quan chủ trì soạn thảo.
Trình tự soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định
Điều 7. Trình tự soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định
1. Đối với những văn bản do Bộ Văn hóa , Thể thao và Du lịch được giao chủ trì soạn thảo, phải thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập theo quy định tại các Điều 20 và 25 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP. Tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo thực hiện theo quy định tại các Điều 21, 22, 23 và 24 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.
2. Cơ quan chủ trì soạn thảo là đầu mối giúp Bộ trưởng thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập;
b) Phối hợp và tạo điều kiện cho Ban soạn thảo tổng kết tình hình thi hành pháp luật; đánh giá tác động trước và trong quá trình soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định; đánh giá tác động thủ tục hành chính đối với văn bản có nội dung quy định về thủ tục hành chính; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung dự thảo; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến dự thảo; chuẩn bị đề cương, biên soạn, tổ chức lấy ý kiến và chỉnh lý dự thảo trước khi gửi thẩm định;
c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết thi hành.
3. Tổ chức lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo:
a) Tổ chức lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, bằng các hình thức: Lấy ý kiến trực tiếp; gửi dự thảo để góp ý; tổ chức hội thảo; thông qua trang thông tin điện tử của Chính phủ, của Bộ hoặc các phương tiện thông tin đại chúng;
b) Cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi dự thảo văn bản đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; đăng tải nội dung dự thảo trên trang thông tin điện tử của Chính phủ, của Bộ để lấy ý kiến về nội dung của dự thảo. Việc đăng tải dự thảo trên trang thông tin điện tử của Bộ thực hiện theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 8 Thông tư này.
Trường hợp văn bản có quy định về thủ tục hành chính, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị định số 48/2013/NĐ-CP);
c) Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhân. Trường hợp không tiếp thu ý kiến góp ý, cơ quan chủ trì soạn thảo phải giải trình cụ thể bằng văn bản.
Điều 8. Trình tự soạn thảo Thông tư
1. Tùy thuộc nội dung của Thông tư, Bộ trưởng có thể quyết định thành lập Tổ biên tập gồm đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo; đại diện Vụ Pháp chế; đại diện các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị và cá nhân có liên quan. Thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo làm Tổ trưởng Tổ biên tập, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về nội dung, chất lượng, tiến độ soạn thảo Thông tư.
2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm phối hợp với Vụ Pháp chế và các cơ quan có liên quan tổ chức tổng kết tình hình thực hiện pháp luật; khảo sát đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; nghiên cứu thông tin tư liệu có liên quan đến nội dung dự thảo; chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; gửi đăng toàn bộ nội dung dự thảo (lần thứ 2) trên trang thông tin điện tử của Bộ theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều này trước thời gian dự kiến trình Bộ trưởng ban hành ít nhất là 60 ngày để lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức, cá nhân; chuẩn bị tờ trình và các tài liệu có liên quan đến dự thảo để trình Bộ trưởng.
Trường hợp soạn thảo Thông tư có nội dung quy định về thủ tục hành chính, ngoài việc thực hiện quy định tại Khoản này còn phải đánh giá tác động của thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị định số 63/2010/NĐ-CP); Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 48/2013/NĐ-CP.
3. Tổ chức lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo:
a) Tuỳ theo tính chất, nội dung của văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức họp lấy ý kiến trực tiếp hoặc gửi dự thảo lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân là đối tượng điều chỉnh của văn bản và các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng tham mưu quản lý nhà nước có liên quan. Nếu đối tượng cần lấy ý kiến là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thì thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo xin ý kiến Thứ trưởng phụ trách khối quyết định;
b) Trường hợp Thông tư có nội dung quy định về thủ tục hành chính, cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện lấy ý kiến của Vụ Pháp chế về thủ tục hành chính theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 48/2013/NĐ-CP.
c) Việc đăng tải nội dung dự thảo trên trang thông tin điện tử của Bộ để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân thực hiện như sau:
- Cơ quan chủ trì soạn thảo có văn bản đề nghị đăng tải dự thảo gửi về Trung tâm Công nghệ thông tin của Bộ và gửi kèm theo văn bản đề nghị 1 bản dự thảo lần thứ 2 của văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Khoản 2 Điều 57 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP (dự thảo có chữ ký xác nhận của Thủ trưởng và dấu treo của cơ quan chủ trì soạn thảo đối với cơ quan có con dấu riêng);
- Gửi 1 bản ghi điện tử dự thảo lần thứ 2 của văn bản qua hòm thư điện tử của Trung tâm Công nghệ thông tin.
- Trong thời gian đăng tải dự thảo, Trung tâm Công nghệ thông tin có trách nhiệm tiếp nhận ý kiến góp ý của tổ chức, cá nhân và gửi ý kiến đến cơ quan chủ trì soạn thảo.
4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhân. Trường hợp không tiếp thu ý kiến góp ý, cơ quan chủ trì soạn thảo phải giải trình cụ thể bằng văn bản.
Chương IV
THẨM ĐỊNH DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT