Quy định về quản lý tài chính đối với phương thức đào tạo toàn thời gian ở nước ngoài:
Điều 3. Quy định về quản lý tài chính đối với phương thức đào tạo toàn thời gian ở nước ngoài:
1. Về mức thu học phí:
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mức thu học phí trên cơ sở vận dụng mức thu học phí đối với đào tạo trình độ tiến sĩ trong nước theo quy định tại Nghị định 49.
Từ năm 2014, NCS trúng tuyển của Đề án 911 có trách nhiệm đóng học phí trước khi được cử đi đào tạo ở nước ngoài cho Bộ Giáo dục và Đào tạo (đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý lưu học sinh) 1 lần đối với toàn bộ thời gian học tập ở nước ngoài. Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi vào Kho bạc nhà nước số thu học phí theo quy định và được sử dụng số thu học phí để trang trải cho các nhiệm vụ quản lý, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Đề án hàng năm và cả giai đoạn. Hằng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo lập dự toán các nội dung chi từ nguồn thu học phí của Đề án gửi Bộ Tài chính thẩm định trước khi thực hiện. Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện nộp NSNN đối với số thu học phí của phương thức đào tạo nước ngoài còn lại sau khi trừ đi các khoản chi phí quản lý, tổng kết Đề án.
2. Về nội dung và mức chi đào tạo:
Thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 144/2007/TTLT-BTC-BGDĐT-BNG ngày 05 tháng 12 năm 2007 của Liên Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Ngoại giao hướng dẫn chế độ cấp phát và quản lý kinh phí đào tạo lưu học sinh Việt Nam ở nước ngoài bằng nguồn vốn NSNN và Thông tư liên tịch số 206/2010/TTLT-BTC-BGDĐT-BNG ngày 15 tháng 12 năm 2010 của Liên Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Ngoại giao sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 144/2007/TTLT-BTC-BGDĐT-BNG và các quy định bổ sung sửa đổi (nếu có).
3. Hàng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm xác định rõ nhu cầu số lượng NCS đào tạo đối với từng ngành nghề đào tạo của năm kế hoạch, chi tiết đến từng quốc gia gửi NCS đào tạo (chi tiết theo số NCS đang học, số NCS sẽ nhập học mới, số NCS sẽ học xong về nước) và căn cứ các mức thu và nội dung mức chi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 của Điều này để xây dựng dự toán thực hiện Đề án 911 trong năm kế hoạch gửi Bộ Tài chính làm căn cứ tổng hợp, bố trí dự toán kinh phí.
Quy định về quản lý tài chính đối với NCS và cơ sở đào tạo NCS của Đề án 911 theo phương thức đào tạo toàn thời gian ở trong nước
Điều 4. Quy định về quản lý tài chính đối với NCS và cơ sở đào tạo NCS của Đề án 911 theo phương thức đào tạo toàn thời gian ở trong nước
1. Về mức thu học phí:
Căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu phát triển của ngành đào tạo và phương thức đào tạo (đào tạo toàn bộ thời gian ở trong nước hoặc đào tạo phối hợp), căn cứ vào Nghị định 49 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; cơ sở đào tạo được giao nhiệm vụ đào tạo NCS của Đề án 911 được chủ động xây dựng mức học phí tương xứng để trang trải chi phí đào tạo. Trong đó:
- Các cơ sở đào tạo trực thuộc các Bộ, ngành Trung ương xây dựng mức thu học phí báo cáo Bộ ngành chủ quản để tổng hợp lấy ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo trước khi thực hiện.
- Các cơ sở đào tạo thuộc địa phương quản lý xây dựng mức học phí trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cho phép trước khi thực hiện.
NCS của Đề án 911 có trách nhiệm đóng đầy đủ học phí cho cơ sở đào tạo theo định kỳ hàng tháng (tối đa không quá 10 tháng/năm); trường hợp NCS tự nguyện, cơ sở đào tạo có thể thu một lần cho cả học kỳ hoặc cả năm học. Trong trường hợp tổ chức theo học chế tín chỉ, cơ sở đào tạo thực hiện quy đổi để thu học phí theo tín chỉ nhưng tổng số học phí thu theo tín chỉ của cả khóa học không được vượt quá mức học phí quy định cho khóa học nếu thu theo năm học.
Các cơ sở đào tạo có trách nhiệm thực hiện Quy chế công khai mức thu học phí của cả khóa học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và gửi vào Kho bạc Nhà nước số thu học phí theo quy định.
2. Về mức kinh phí hỗ trợ từ Ngân sách nhà nước:
NSNN hỗ trợ kinh phí cho các cơ sở đào tạo được giao nhiệm vụ thực hiện Đề án 911 tính trên số NCS thực tế nhập học trong khuôn khổ chỉ tiêu đào tạo được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao và mức chi đối với từng chuyên ngành đào tạo. Mức cụ thể như sau:
- Đối với nhóm ngành y dược: 16 triệu đồng/NCS/năm;
- Đối với nhóm ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, nông, lâm, thủy sản, thể dục thể thao, nghệ thuật: 14 triệu đồng/NCS/năm;
- Đối với nhóm ngành khoa học xã hội, kinh tế, luật, khách sạn, du lịch và nhóm ngành khác (nằm ngoài các nhóm ngành trên): 10 triệu đồng/NCS/năm.
Thời gian hỗ trợ: Tối đa không quá 3 năm/NCS.
3. Ngoài mức kinh phí NSNN hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo nêu trên, để khuyến khích nâng cao chất lượng đào tạo, NSNN sẽ hỗ trợ thêm 1 khoản kinh phí theo mức quy định tại Khoản 2 Điều này (tương ứng theo từng chuyên ngành đào tạo) để các cơ sở đào tạo hỗ trợ trực tiếp cho các NCS đang học có kết quả học tập tốt (đáp ứng tối thiểu các điều kiện về kết quả học tập, nghiên cứu theo quy định hướng dẫn tại phụ lục kèm theo Thông tư này) thực hiện các nội dung sau:
- Đăng bài báo khoa học trong nước hoặc quốc tế;
- Khảo sát trong nước, thực hành, thí nghiệm phục vụ đề tài nghiên cứu;
- Tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế và đi thực tập ngắn hạn ở nước ngoài: Tổng số NCS được cử đi tối đa không quá 25% số NCS của Đề án 911 đang học tại cơ sở đào tạo (Nội dung và mức chi vận dụng theo quy định hiện hành của Nhà nước về chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức nhà nước đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài do NSNN bảo đảm kinh phí).
Thời gian hỗ trợ: Trong thời gian NCS học tại cơ sở đào tạo (không quá 3 năm).
Ngoài nguồn hỗ trợ từ NSNN, các cơ sở đào tạo có thể huy động thêm từ các nguồn đóng góp, huy động hợp pháp khác từ người học, cơ quan cử NCS đi học theo nguyên tắc đồng thuận. Cơ sở đào tạo có trách nhiệm căn cứ vào các quy định về yêu cầu đào tạo NCS của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định tại Thông tư này để xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí và quy chế hỗ trợ đối với các NCS đáp ứng các điều kiện để được nhận hỗ trợ theo các nội dung nêu trên và thông báo công khai.
4. Phương thức hỗ trợ kinh phí từ NSNN cho cơ sở đào tạo được giao nhiệm vụ đào tạo theo Đề án 911:
a) Đối với năm đầu được giao nhiệm vụ đào tạo:
Căn cứ theo danh sách, số lượng NCS đã trúng tuyển và theo học thực tế tại các cơ sở đào tạo đối với từng chuyên ngành đào tạo, không vượt quá chỉ tiêu đào tạo được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ hàng năm (có xác nhận của Bộ Giáo dục và Đào tạo), NSNN thực hiện hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho cơ sở đào tạo theo số lượng NCS thực tế và mức chi quy định tại Khoản 2, Khoản 3 của Điều này.
b) Đối với các năm tiếp theo:
Căn cứ theo danh sách, số lượng NCS đang theo học tại cơ sở đào tạo và số NCS mới trúng tuyển, theo học thực tế, NSNN tiếp tục hỗ trợ cho số NCS đang học và số nhập học mới theo mức chi quy định tại Khoản 2, Khoản 3 của Điều này.
Để số lượng NCS tuyển mới hàng năm phù hợp với khả năng cân đối của NSNN, tổng số lượng tuyển mới hàng năm tối đa không vượt quá 30% số NCS thực tế đã trúng tuyển năm trước liền kề (tính từ mốc chỉ tiêu thực hiện của năm 2013). Căn cứ vào thực tế triển khai, Bộ Giáo dục và Đào tạo điều chỉnh và giao chỉ tiêu tuyển mới tại các cơ sở đào tạo đảm bảo không vượt quá tổng chỉ tiêu được tuyển mới hàng năm của Đề án 911.
5. Quản lý và sử dụng nguồn kinh phí:
a) Căn cứ vào nguồn kinh phí được sử dụng của Đề án 911, các chế độ chi tiêu tài chính hiện hành và các quy định tại Thông tư này, người đứng đầu các cơ sở đào tạo có trách nhiệm ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung quy chế chi tiêu nội bộ về đào tạo NCS của Đề án 911 và công khai trong đơn vị.
b) Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ về đào tạo NCS của Đề án 911 cần bao gồm các nội dung như: Chi thù lao giảng dạy và hướng dẫn NCS của Đề án (hoặc thuê giảng viên trong nước hoặc nước ngoài, nếu có); chi biên soạn/hoàn chỉnh chương trình, giáo trình; chi hội đồng chấm chuyên đề, phản biện đề tài, hội đồng bảo vệ luận án và các nội dung khác có liên quan); chi hỗ trợ NCS đăng bài báo trong nước, quốc tế; chi hỗ trợ NCS thực hiện khảo sát trong nước, thực hành, thí nghiệm phục vụ đề tài nghiên cứu; chi hỗ trợ đối với NCS tham dự hội nghị, hội thảo và thực tập ngắn hạn ở nước ngoài; chi cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thư viện và các khoản chi khác có liên quan trực tiếp đến công tác đào tạo NCS đảm bảo chất lượng đào tạo theo yêu cầu của Đề án 911.
c) Dự toán kinh phí NSNN hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo chưa sử dụng hết đến cuối năm được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng.
Chế độ tài chính đối với phương thức đào tạo theo hình thức phối hợp
Điều 5. Chế độ tài chính đối với phương thức đào tạo theo hình thức phối hợp
1. Phương thức đào tạo phối hợp:
Phương thức đào tạo phối hợp là phương thức đào tạo theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó NCS được đào tạo một phần thời gian ở trong nước và một phần thời gian ở nước ngoài với sự phối hợp đào tạo giữa cơ sở đào tạo tiến sĩ ở trong nước và cơ sở đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài.
2. Về mức thu học phí:
- Đối với thời gian NCS đào tạo ở nước ngoài: Thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 của Thông tư này.
- Đối với thời gian NCS đào tạo ở trong nước: Thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Thông tư này.
3. Về nội dung và mức chi đào tạo:
- Đối với thời gian NCS đào tạo ở nước ngoài: Thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Thông tư này.
- Đối với thời gian NCS đào tạo ở trong nước: Thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 4 của Thông tư này.
Chế độ tài chính đối với các cơ sở đào tạo được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định giao nhiệm vụ đào tạo tiền tiến sĩ
Điều 6. Chế độ tài chính đối với các cơ sở đào tạo được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định giao nhiệm vụ đào tạo tiền tiến sĩ
1. Các cơ sở đào tạo tiền tiến sĩ phải đáp ứng các yêu cầu và điều kiện đảm bảo chất lượng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và được Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định giao nhiệm vụ đào tạo tiền tiến sĩ.
2. Về nguyên tắc toàn bộ các chi phí trong quá trình học tập tại cơ sở đào tạo tiền tiến sĩ sẽ do người học hoặc cơ quan cử người học chi trả.
a) Các cơ sở đào tạo tiền tiến sĩ được vận dụng các quy định, định mức chi đối với đào tạo cao đẳng, đại học khi đào tạo các lớp học tiền tiến sĩ; được vận dụng các định mức chi quy định tại Thông tư số 123/2009/TT-BTC ngày 17 tháng 6 năm 2009 của Bộ Tài chính quy định nội dung chi, mức chi xây dựng chương trình khung và biên soạn chương trình, giáo trình các môn học đối với các ngành đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp.
b) Các cơ sở đào tạo tiền tiến sĩ được thu học phí của người học theo mức thu tối đa không quá 150% mức học phí chính quy cùng cấp học và cùng nhóm ngành nghề đào tạo quy định tại Nghị định 49 để trang trải chi phí đào tạo.
c) Để tạo điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo, NSNN hỗ trợ ban đầu các cơ sở đào tạo tiền tiến sĩ chi phí nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo, biên soạn giáo trình đào tạo với mức hỗ trợ tối đa không vượt quá 1.000 triệu đồng/cơ sở. Các cơ sở đào tạo tiền tiến sĩ cần xây dựng Đề án tăng cường chất lượng đào tạo đề nghị được hỗ trợ gửi cơ quan chủ quản phê duyệt và gửi về Bộ Tài chính làm căn cứ để xem xét hỗ trợ kinh phí.
Chương III
LẬP DỰ TOÁN VÀ QUYẾT TOÁN KINH PHÍ