Đã lưuĐăng ký
Nguồn

Nghị định Về chế độ quản lý các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước Chương 2 — XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOÁ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRỌNG ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC

Điều 6–Điều 10 · 5 điều

Xem văn bản gốc ↗

Để bảo đảm sự thực hiện, mỗi chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm phải có một kế hoạch thực hiện và điều hoà được cơ quan có thẩm quyền duyệt trước khi ghi vào kế hoạch Nhà nước.

Điều 6

Tab mới ↗

Điều 6. Để bảo đảm sự thực hiện, mỗi chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm phải có một kế hoạch thực hiện và điều hoà được cơ quan có thẩm quyền duyệt trước khi ghi vào kế hoạch Nhà nước.

Kế hoạch thực hiện và điều hoà của mỗi chương trình bao gồm:

Điều 7

Tab mới ↗

Điều 7. Kế hoạch thực hiện và điều hoà của mỗi chương trình bao gồm: Các đề cương tiến hành từng nhiệm vụ, từng vấn đề hoặc đề tài trong chương trình. Đề cương tổng hợp kế hoạch thực hiện toàn bộ chương trình, được xây dựng trên cơ sở các đề cương tiến hành từng nhiệm vụ, vấn đề, đề tài nói trên. Các bản đề cương này phải xác định rõ mục tiêu cuối cùng của chương trình hoặc của nhiệm vụ, vấn đề, đề tài trong chương trình; hiệu quả kinh tế - xã hội cuối cùng cần đạt; nội dung, tiến độ thực hiện và phân công trách nhiệm cho từng cơ quan, từng chủ nhiệm đề tài; các điều kiện vật chất kỹ thuật và biện pháp tổ chức thực hiện. Sau khi cơ quan có thẩm quyền duyệt và được thể hiện vào kế hoạch Nhà nước, bản kế hoạch thực hiện và điều hoà của mỗi chương trình là một văn bản có hiệu lực pháp lý đối với mọi cơ quan, cá nhân tham gia và có liên quan đến chương trình. Chủ nhiệm chương trình và các Chủ nhiệm đề tài có quyền căn cứ kế hoạch thực hiện và điều hoà để ký các hợp đồng với các cơ quan khác nhằm thực hiện chương trình.

Các chương trình và kế hoạch thực hiện và điều hoà của chương trình được xét duyệt theo nguyên tắc sau đây:

Điều 8

Tab mới ↗

Điều 8. Các chương trình và kế hoạch thực hiện và điều hoà của chương trình được xét duyệt theo nguyên tắc sau đây: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xét duyệt mục tiêu của chương trình, nội dung các vấn đề đưa vào chương trình quyết định Bộ chủ trì, bổ nhiệm Chủ nhiệm chương trình và quyết định những biện pháp lớn bảo đảm việc thực hiện. Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước duyệt đề cương tổng hợp kế hoạch thực hiện chương trình. Bộ trưởng bộ chủ trì chương trình duyệt các bản đề cương tiến hành từng nhiệm vụ, vấn đề, đề tài trong phạm vi chương trình và trên nguyên tắc bảo đảm sự ăn khớp với bản đề cương tổng hợp được duyệt.

Các Bộ, Tổng cục, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, các cơ quan, đơn vị cơ sở được phân công tham gia các chương trình, các cơ quan quản lý chức năng ở các ngành, các cấp có trách nhiệm thể hiện đầy đủ các nội dung tương ứng của kế hoạch thực hiện và điều hoà vào kế hoạch của ngành, địa phương, cơ qu

Điều 9

Tab mới ↗

Điều 9. Các Bộ, Tổng cục, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, các cơ quan, đơn vị cơ sở được phân công tham gia các chương trình, các cơ quan quản lý chức năng ở các ngành, các cấp có trách nhiệm thể hiện đầy đủ các nội dung tương ứng của kế hoạch thực hiện và điều hoà vào kế hoạch của ngành, địa phương, cơ quan đơn vị mình theo tinh thần ưu tiên như đã nói ở Điều 3 của Nghị định này. Mọi việc bổ sung, sửa đổi các nhiệm vụ ghi trong bản kế hoạch thực hiện và điều hoà đều phải được Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước chấp thuận.

Chế độ báo cáo tình hình thực hiện chương trình

Điều 10

Tab mới ↗

Điều 10. Chế độ báo cáo tình hình thực hiện chương trình a- Các cơ quan, đơn vị và cán bộ được giao chủ trì nhiệm vụ, đề tài thuộc các chương trình có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao chủ yếu là đánh giá kết quả đạt được so với nhiệm vụ ghi trong kế hoạch thực hiện và điều hoà nêu những đề nghị cần thiết lên cơ quan có thẩm quyền giải quyết để tạo điều kiện cho chương trình được tiến hành thuận lợi. Thời gian báo cáo được quy định như sau: Tháng 3 hàng năm: báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ trong 6 tháng (từ tháng 9 năm trước) và đề nghị điều chỉnh kế hoạch (nếu cần). Tháng 9 hàng năm: báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ 12 tháng (từ tháng 9 năm trước) và đề nghị bố trí kế hoạch năm sau. Các báo cáo này phải được gửi tới: Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước; Cơ quan chủ trì chương trình; Chủ nhiệm chương trình; Cơ quan chủ quản nhiệm vụ, vấn đề, đề tài. b- Các cơ quan chủ quản nhiệm vụ, vấn đề, đề tài có trách nhiệm gửi báo cáo định kỳ cho cơ quan thống kê theo sự hướng dẫn của Tổng cục Thống kê. c- Sau khi hoàn thành một nhiệm vụ, đề tài, cũng như khi kết thúc một bước quan trọng (ví dụ: hoàn thành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, chuẩn bị đưa vào sản xuất...) cán bộ và cơ sở chủ trì việc thực hiện phải làm báo cáo để Ban chủ nhiệm chương trình kiểm tra và tổ chức đánh giá. Các kết quả đánh giá của Ban chủ nhiệm chương trình phải được gửi tới: Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước; Cơ quan chủ trì chương trình; Cơ quan chủ quản nhiệm vụ, vấn đề, đề tài. d- Trên cơ sở các bản đánh giá tình hình thực hiện từng nhiệm vụ, đề tài, sau khi kết thúc toàn bộ chương trình, Chủ nhiệm chương trình chịu trách nhiệm xây dựng bản báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện toàn bộ chương trình. Bộ chủ trì tổ chức việc đánh giá và làm báo cáo chính thức trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng thời gửi Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê . Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm theo dõi chỉ đạo và nhận xét kết quả thực hiện các chương trình và tổng hợp báo cáo lên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Chương 3: ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH VÀ CHẾ ĐỘ KHUYẾN KHÍCH

Về toàn văn Nghị định Về chế độ quản lý các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp