Nghị định Về chế độ quản lý các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước Chương 4 — TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN VÀ CÁN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐỐI VỚI CÁC CHƯƠNG TRÌNH TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRỌNG ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC
Các Bộ, Tổng cục, các Uỷ ban nhân dân địa phương các đơn vị cơ sở và cán bộ khoa học kỹ thuật được phân công thực hiện chương trình đều có trách nhiệm bảo đảm thực hiện có chất lượng và đúng tiến độ các nhiệm vụ và đề tài được giao.
Điều 19. Các Bộ, Tổng cục, các Uỷ ban nhân dân địa phương các đơn vị cơ sở và cán bộ khoa học kỹ thuật được phân công thực hiện chương trình đều có trách nhiệm bảo đảm thực hiện có chất lượng và đúng tiến độ các nhiệm vụ và đề tài được giao.
Bộ trưởng các Bộ được giao chủ trì các chương trình phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng về toàn bộ quá trình thực hiện chương trình từ khâu xây dựng kế hoạch thực hiện và điều hoà, bố trí các điều kiện thực hiện (cán bộ tài chính, vật tư... và sử dụng các cơ quan chức năng của Bộ để giúp
Điều 20. Bộ trưởng các Bộ được giao chủ trì các chương trình phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng về toàn bộ quá trình thực hiện chương trình từ khâu xây dựng kế hoạch thực hiện và điều hoà, bố trí các điều kiện thực hiện (cán bộ tài chính, vật tư... và sử dụng các cơ quan chức năng của Bộ để giúp Chủ nhiệm chương trình hoạt động), đến khâu báo cáo, tổng kết hoàn thành mục tiêu được đề ra cho chương trình.
Dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng Bộ chủ trì chương trình, Chủ nhiệm chương trình cùng với Ban chủ nhiệm chương trình có trách nhiệm:
Điều 21. Dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng Bộ chủ trì chương trình, Chủ nhiệm chương trình cùng với Ban chủ nhiệm chương trình có trách nhiệm:
Tổ chức xây dựng kế hoạch thực hiện và điều hoà của chương trình;
Tổ chức thực hiện kế hoạch đó;
Giao các nhiệm vụ thực hiện chương trình cho các cơ sở trực thuộc đảm nhiệm hoặc ký các hợp đồng với các cơ quan, đơn vị có liên quan;
Kiểm tra đôn đốc các ngành, các địa phương, các cơ sở thực hiện chương trình;
Chỉ đạo hoạt động của các Chủ nhiệm đề tài thuộc chương trình;
Nắm tình hình thực hiện toàn bộ chương trình và làm báo cáo theo chế độ quy định; đề xuất các kiến nghị về điều chỉnh hoặc bổ sung kế hoạch thực hiện và điều hoà; đề nghị khen thưởng, kỷ luật và đề nghị cấp phụ cấp trách nhiệm cho các thành viên Ban chủ nhiệm và các Chủ nhiệm đề tài;
Tổ chức việc đánh giá tổng kết các kết quả đạt được của từng nhiệm vụ, đề tài và của toàn bộ chương trình sau khi kết thúc và làm báo cáo theo chế độ quy định.
Chủ nhiệm chương trình có những quyền hạn sau đây:
Điều 22. Chủ nhiệm chương trình có những quyền hạn sau đây:
Yêu cầu Bộ trưởng Bộ chủ trì và các cơ quan có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện thực hiện chương trình theo đúng chế độ đã quy định. Trong trường hợp các cơ quan nói trên không làm đúng trách nhiệm thì Chủ nhiệm chương trình có quyền báo cáo lên Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước hoặc Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng để can thiệp.
Được Bộ trưởng Bộ chủ trì uỷ nhiệm ra các chỉ thị bắt buộc thực hiện đối với thủ trưởng các đơn vị cơ sở và các Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu - triển khai khi phát hiện thấy có sự vi phạm hoặc không đáp ứng các yếu cầu của chương trình, vi phạm các nguyên tắc và chế độ quản lý chương trình. Trong trường hợp đã có chỉ thị của Chủ nhiệm chương trình mà thủ trưởng các đơn vị cơ sở và Chủ nhiệm đề tài vẫn không chấp hành thì Chủ nhiệm chương trình có quyền yêu cầu các cơ quan quản lý đơn vị hoặc quản lý cán bộ xử lý, kể cả việc ra các quyết định thi hành kỷ luật đối với những người thiếu trách nhiệm.
Được uỷ nhiệm của Bộ trưởng ký các hợp đồng với các cơ sở có tư cách pháp nhân để thực hiện chương trình.
Được Bộ trưởng uỷ nhiệm duyệt các bản đề cương tiến hành nhiệm vụ, đề tài trong chương trình; lựa chọn để giới thiệu các Chủ nhiệm đề tài.
Yêu cầu Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước giám sát và kiểm tra các cơ quan cấp phát tài chính cho chương trình. Phân bổ, điều chỉnh và áp dụng các hình thức sử dụng có hiệu qủa nhất số kinh phí được Nhà nước cấp cho các chương trình.
Điều 23. Chủ nhiệm đề tài có nhiệm vụ:
Xây dựng đề cương tiến hành đề tài theo sự hướng dẫn của Chủ nhiệm chương trình. Sau khi đề cương được duyệt chịu trách nhiệm trước Chủ nhiệm chương trình tổ chức thực hiện theo đúng yêu cầu chất lượng và tiến độ.
Định kỳ báo cáo tình hình thực hiện đề tài theo chế độ của Nhà nước và theo yêu cầu của Chủ nhiệm chương trình.
Cung cấp đầy đủ các tài liệu, số liệu và báo cáo tổng kết đáp ứng những yêu cầu đánh giá kết quả đề tài theo quy định của Nhà nước và của Chủ nhiệm chương trình.
Điều 24. Chủ nhiệm đề tài có quyền hạn:
Yêu cầu chủ nhiệm chương trình, thủ trưởng và các tổ chức hữu quan của cơ quan mình (Viện trưởng...) đáp ứng những nhu cầu về bố trí kế hoạch hàng năm, 5 năm cũng như về việc bảo đảm các điều kiện thực hiện ưu tiên như nêu trong Điều 3 và phù hợp với đề cương tiến hành được cấp có thẩm quyền duyệt.
Do ý nghĩa qnan trọng của các đề tài nên các Chủ nhiệm chương trình, các thủ trưởng và các tổ chức hữu quan nói trên cần thực hiện thật tốt yêu cầu này tạo mọi thuận lợi cho Chủ nhiệm đề tài hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Sau khi có sự thoả thuận của Chủ nhiệm chương trình bằng văn bản, được uỷ quyền của thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp ký các hợp đồng với các cơ quan hữu quan để thực hiện một số nội dung của đề tài nếu thấy cần thiết.
Kiến nghị Chủ nhiệm chương trình hoặc thủ trưởng các cơ quan Nhà nước giúp đỡ thực hiện các nhiệm vụ .
Các bộ có đơn vị thuộc quyền được giao thực hiện đề tài trong chương trình (trong văn bản gọi tắt là Bộ chủ quản) có trách nhiệm:
Điều 25. Các bộ có đơn vị thuộc quyền được giao thực hiện đề tài trong chương trình (trong văn bản gọi tắt là Bộ chủ quản) có trách nhiệm:
Chỉ đạo và đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, đơn vị và cán bộ thuộc quyền thực hiện tốt những nhiệm vụ được giao.
Chỉ đạo các đơn vị thuộc quyền và Chủ nhiệm đề tài thực hiện đúng các chế độ về đăng ký, báo cáo thanh quyết toán thu chi tài chính do Nhà nước quy định.
Chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng về kết quả thực hiện các đề tài theo đề cương đã được cấp có thẩm quyền duyệt và theo kế hoạch Nhà nước giao.
Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm:
Điều 26. Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm:
Nghiên cứu và lập dự án danh mục các chương trình và danh sách các Chủ nhiệm chương trình trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng duyệt.
Quyết định danh sách các Ban chủ nhiệm chương trình.
Nghiên cứu và giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét các đề án kế hoạch thực hiện và điều hoà trước khi duyệt.
Sau khi kế hoạch thực hiện và điều hoà các chương trình được cơ quan có thẩm quyền duyệt, Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước phối hợp với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Tài chính tổng hợp vào dự án kế hoạch khoa học và kỹ thuật 5 năm và hàng năm trình Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn.
Kiểm tra đôn đốc các ngành, các địa phương, các cơ quan đơn vị được phân công thực hiện các chương trình theo đúng yêu cầu về chất lượng và thời gian quy định.
Tổng kết và đánh giá kết quả thực hiện các chương trình để báo cáo lên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét các đề nghị có liên quan đến các chương trình, kể cả các đề nghị khen thưởng hoặc kỷ luật.
Duyệt phụ cấp trách nhiệm cho các thành viên Ban chủ nhiệm và các Chủ nhiệm đề tài theo chế độ quy định.
Phối hợp với các cơ quan, xây dựng và ban hành các chế độ thể lệ, nhằm tăng cường quản lý các chương trình theo tinh thần của bản Nghị định này.
Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước được quyền giữ lại 4% ngân sách Nhà nước hàng năm dành cho hoạt động khoa học kỹ thuật để có điều kiện kịp thời đáp ứng các nhu cầu đột xuất nảy sinh trong quá trình thực hiện chương trình.
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Vật tư và các cơ quan quản lý chức năng khác trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, tổ chức quản lý các chương trình theo các quy định trong Nghị định này.
Điều 27. Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Vật tư và các cơ quan quản lý chức năng khác trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước, tổ chức quản lý các chương trình theo các quy định trong Nghị định này.
Chương 5:
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH