Điều 12
.
–
Các khoản thu vào kho bạc chia ra làm hai loại lớn, thu ngân sách và thu ngoài ngân sách.
Thu ngân sách nói ở đây là những khoản thu đã được quy định trong mục lục tài khoản ngân sách (kể cả thu điều chỉnh; thu kết dư). Trong thu ngân sách thì chia ra thu cố định và thu điều tiết; thu cố định là thu dành riêng cho một cấp ngân sách được hưởng, thu điều tiết là thu dành cho một hay nhiều cấp ngân sách được hưởng, mỗi cấp hưởng theo một tỷ lệ phần trăm nhất định (có trường hợp điều tiết 100%).
Thu ngoài ngân sách là những khoản thu có tính chất tạm thời, sau sẽ điều chỉnh hoặc có tính chất giảm chi; cả hai khoản đều không dự trù trong dự toán thu. Ví dụ: tạm thu, thu hồi tiền cho vay, thu hồi tạm ứng, thu giảm cấp phát, giảm chi.
Điều 13
.
–
Khi thu tiền, ngân hàng Nhà nước (kho bạc) phải kiểm tra xem việc phân chia khoản thu trong giấy nộp tiền có đúng hay không, rồi căn cứ vào giấy nộp tiền để làm kế toán thu. Cuối mỗi ngày, kho bạc lập báo cáo số thu trong ngày theo loại, khoản, hạng, mục thu và gửi cho cơ quan tài chính cùng cấp, kèm chứng từ gốc (giấy nộp tiền) để cho cơ quan tài chính làm căn cứ ghi sổ, kiểm tra, giám đốc thu.
Điều 14
.
–
Khi nhận được báo cáo của ngân hàng Nhà nước (kho bạc) cơ quan tài chính phải:
- Thẩm tra xem việc gửi các báo biểu và chứng từ gốc có đầy đủ hay không, việc ghi chép kế toán có chính xác, kịp thời không, việc thực hiện kế hoạch thu nộp có ưu, khuyết điểm như thế nào…
- Sau khi thẩm tra, căn cứ vào báo biểu và chứng từ gốc để ghi sổ chi tiết ngân sách và lập chứng từ ghi sổ để ghi sổ Cái.
Tùy tính chất khoản thu, cách lập chứng từ ghi sổ như sau:
1. Nếu là thu trong ngân sách, đã phân tích rõ loại, khoản, hạng, mục thì ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Thu ngân sách.
Trường hợp có thoái thu, trả lại số thu năm nay, và đã phân tích rõ loại, khoản, hạng, mục thì ghi:
Nợ: Thu ngân sách
Có: Tiền gửi của ngân sách.
Trường hợp thoái thu, trả lại số thu năm trước mà tài chính phải làm lệnh chi tiền để xuất trả, thì ghi:
Nợ: Cấp phát lệnh chi tiền
Có: Tiền gửi của ngân sách.
2. Nếu là thu ngoài ngân sách như tạm thu, thu hồi cho vay, thu hồi tạm ứng, thu giảm cấp phát, giảm chi thì ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Tạm thu, hay vãng lai với tổng kế toán, hay tạm ứng, hay cấp phát, hay chi ngân sách.
Về sau, nếu tạm thu được điều chỉnh thành thu ngân sách thì sẽ ghi:
Nợ: Tạm thu
Có: Thu ngân sách
Trường hợp tạm thu, sau phải trả lại cho đơn vị hay người nộp thì ghi:
Nợ: Tạm thu
Có: Tiền gửi của ngân sách
Trường hợp thoái thu các khoản cho vay, tạm ứng, cấp phát chi dự toán thì dùng phương pháp ghi sổ đó để hủy bỏ việc ghi chép cũ.
3. Nếu là số thu trước cho năm sau hoặc thuế nông nghiệp vụ đông thu cho năm sau thì ghi:
Nợ: tiền gửi của ngân sách
Có: Thu trước cho năm sau hoặc thuế nông nghiệp vụ đông thu cho năm sau
4. Đối với hiện vật thuế nông nghiệp bán cho ngành lương thực chưa trả tiền thì chưa ghi ghép gì vào tài khoản “thu ngân sách”. Cơ quan tài chính phải phối hợp chặt chẽ với ngành lương thực và ngân hàng Nhà nước để thúc đẩy trả tiền mỗi khi thóc, gạo hay hiện vật khác nhập kho lương thực.
Điều 15.
-
Về các khoản thu, nộp chậm, kho bạc chưa tập trung kịp trong tháng, đến tháng sau mới báo cáo, cơ quan tài chính sẽ căn cứ vào báo cáo này mà ghi tài khoản “Tiền đang đi đường” như sau:
Ở sổ Cái tháng trước ghi:
Nợ: Tiền đang đi đường
Có: Thu ngân sách hay tạm thu.
Ở sổ Cái tháng này ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Tiền đang đi đường.
Nếu có thoái thu:
a) Đối với các khoản thu ngân sách:
Ở sổ Cái tháng trước ghi:
Nợ: Thu ngân sách
Có: Tiền đang đi đường.
Ở sổ Cái tháng này ghi:
Nợ: Tiền đang đi đường
Có: Tiền gửi của ngân sách.
b) Đối với các khoản thu ngoài ngân sách, dùng phương pháp ghi sổ đỏ ở sổ Cái tháng trước và sổ Cái tháng này để hủy bỏ việc ghi chép, trừ đối với tài khoản tạm thu thì xử lý giống như các khoản thu ngân sách nói ở phần a trên.
Đối với các khoản thu nhập của tháng 12, sang đầu tháng 1 năm sau mới tập trung được thì sử dụng tài khoản vãng lai giữa hai niên độ để ghi vào sổ Cái năm cũ và sổ Cái năm mới.
Sổ Cái năm cũ ghi:
Nợ: Vãng lai giữa hai niên độ trước và sau.
Có: Thu ngân sách hoặc thu ngoài ngân sách.
Sổ Cái năm mới ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Vãng lai giữa hai niên độ trước và sau.
Trường hợp có thoái thu thì vận dụng cách ghi chép như đã nói ở trên.
Điều 16
.
–
Hàng ngày, hàng tháng, số thu nhập vào kho bạc phải khớp với số liệu của các cơ quan nộp tiền. Nếu phát hiện thấy chênh lệch thì dù là cơ quan nộp tiền làm nhầm hay kho bạc ghi nhầm, cơ quan tài chính cũng đều căn cứ vào báo cáo của kho bạc để lập “giấy đề nghị điều chỉnh” gửi cho kho bạc đính chính lại; trong khi chờ đợi thì ghi đúng như đã đề nghị điều chỉnh rồi theo dõi kho bạc điều chỉnh.
Điều 17
.
–
Sau khi ghi sổ Cái, cơ quan tài chính sẽ ghi sổ chi tiết các khoản thu theo loại, khoản, hạng, mục ngân sách Nhà nước để phản ánh đầy đủ chi tiết tình hình thực hiện thu của ngân sách Nhà nước ở địa phương.
Mục 2 - Xuất quỹ kho bạc: cấp phát, cho vay, tạm ứng, chi dự toán.
Mục 2 — Xuất quỹ kho bạc: cấp phát, cho vay, tạm ứng, chi dự toán.
Điều 18
.
-
Đối với ba hình thức cấp phát vốn ngân sách:
a) Cấp phát vốn ngân sách cho các tổ chức và đơn vị kinh tế (cấp vốn lưu động, kinh phí chuyên dùng, dự trữ vật tư, cấp bù lỗ v.v…), cho vay hay trợ cấp cho ngân sách các cấp, tạm ứng theo lệnh chi, lệnh cho vay, lệnh tạm ứng…của cơ quan tài chính để chuyển tiền sang tài khoản “tiền gửi vãng lai” của các đơn vị ở ngân hàng Nhà nước;
b) Cấp phát vốn ngân sách cho các đơn vị kiến thiết cơ bản theo điều lệ cấp phát vốn kiến thiết cơ bản của Nhà nước;
c) Cấp phát vốn ngân sách cho các đơn vị dự toán hành chính và sự nghiệp, các tổ chức của quân đội nhân dân và công an nhân dân vũ trang theo lối cấp phát hạn mức, thì việc ghi sổ kế toán quy định như sau.
Điều 19.
-
Đối với cấp phát vốn ngân sách theo hình thức a nói ở điều 16:
- Nếu đã phân tích loại, khoản, hạng, mục thì ghi:
Nợ: Cấp phát lệnh chi tiền
Có: Tiền gửi của ngân sách
Trường hợp có nộp giảm cấp phát thì ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách.
Có: Cấp phát lệnh chi tiền.
- Nếu cấp cho vay giữa các cấp ngân sách thì ghi:
Nợ: Vãng lai với tổng kế toán
Có: Tiền gửi của ngân sách.
Trường hợp hoàn trả số tiền vay thì ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Vãng lai với tổng kế toán (cấp trên hay cấp dưới).
Trường hợp chuyển cho vay thành trợ cấp hoặc nộp lên (thuộc khoản chi điều chỉnh) thì ghi:
Nợ: Cấp phát lệnh chi tiền
Có: Vãng lai với tổng kế toán;
đồng thời ghi:
Nợ: Chi ngân sách
Có: Cấp phát lệnh chi tiền.
- Nếu là tạm ứng của từng cấp ngân sách thì ghi:
Nợ: Tạm ứng
Có: Tiền gửi của ngân sách.
Trường hợp hoàn trả tạm ứng thì ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Tạm ứng
Điều 20
.
-
Đối với cấp vốn ngân sách cho ngân hàng kiến thiết theo hình thức b nói ở điều 16 thì ghi:
Nợ: Tạm ứng kiến thiết cơ bản
Có: Tiền gửi của ngân sách
Cuối mỗi tháng, sau khi ngân hàng kiến thiết thanh toán tạm ứng bằng cấp phát chính thức thì ghi:
Nợ: Cấp phát kiến thiết cơ bản
Có: Tạm ứng kiến thiết cơ bản;
đồng thời ghi:
Nợ: Chi dự toán
Có: Cấp phát kiến thiết cơ bản.
Điều 21.
-
Đối với cấp phát vốn ngân sách theo hình thức cấp phát hạn mức nói ở điểm c, điều 16 thì ghi:
Nợ: Cấp phát hạn mức
Có: Tiền gửi của ngân sách.
Trường hợp nộp trả kinh phí hạn mức để khôi phục hạn mức thì ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Cấp phát hạn mức
Điều 22
.
-
Nếu ngân sách cấp trên trợ cấp cho ngân sách cấp dưới (thuộc loại chi điều chỉnh) và ngân sách cấp dưới khi nộp tiền lên ngân sách cấp trên (thuộc loại chi điều chỉnh) thì làm lệnh chi tiền để vừa ghi cấp phát vừa ghi chi ngân sách như sau:
Nợ: Cấp phát lệnh chi tiền
Có: Tiền gửi của ngân sách;
đồng thời ghi:
Nợ: Chi ngân sách
Có: Cấp phát lệnh tiền
Điều 23
.
–
Khi làm thông tri duyệt quyết toán của các đơn vị dự toán thì ghi:
Nợ: Chi ngân sách
Có: Cấp phát hạn mức hay cấp phát lệnh chi tiền
Trường hợp quyết toàn chi đã được cơ quan tài chính duyệt y và đã ghi sổ (tài khoản “chi ngân sách”), nhưng về sau phát hiện là chi sai và số tiền chisai đó đã nộp trả lại kho bạc thì ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách.
Có: Chi ngân sách.
Điều 24
.
–
Ngân sách trung ương hay địa phương khi dùng dự bị phí chi vào việc gì thì ghi thẳng vào loại, khoản, hạng, mục của việc đó.
Việc sử dụng dự bị phí phải theo đúng các quy định của Nhà nước và phải mở sổ phụ để theo dõi riêng và phản ánh tình hình sử dụng.
Điều 25
.
–
Sau khi thẩm tra, xét duyệt và ghi sổ Cái, cơ quan tài chính phải mở sổ chi tiết chi ngân sách theo mục lục ngân sách để ghi đầy đủ chi tiết loại, khoản, hạng, mục.
MỤC 3
VAY NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC; VAY CỦA NGÂN SÁCH CÁC CẤP.
MỤC 3 — VAY NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC; VAY CỦA NGÂN SÁCH CÁC CẤP.
Điều 26.
–
a) Khi ngân sách trung ương được ngân sách Nhà nước cho vay, tổng kế toán trung ương ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Vay ngân hàng Nhà nước.
Khi hoàn trả thì ghi:
Nợ: Vay ngân hàng Nhà nước
Có: Tiền gửi của ngân sách
b) Khi ngân sách địa phương được ngân sách trung ương cho vay, tổng kế toán địa phương ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Vãng lai với tổng kế toán cấp trên.
Khi hoàn trả thì ghi:
Nợ: Vãng lai với tổng kế toán cấp trên
Có: Tiền gửi của ngân sách
Trường hợp khoản tiền vay được chuyển thành trợ cấp thì ghi:
Nợ: Vãng lai với tổng kế toán cấp trên
Có: Thu ngân sách
Tổng kế toán cấp trên (cấp cho vay) khi cho vay, ghi:
Nợ: Vãng lai với tổng kế toán cấp dưới
Có: Tiền gửi của ngân sách
Khi cấp dưới hoàn trả nợ vay, thì ghi:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Vãng lai với tổng kế toán cấp dưới;
Trường hợp khoản tiền vay chuyển thành trợ cấp thì ghi:
Nợ: Cấp phát lệnh chi tiền
Có: Vãng lai với tổng kế toán cấp dưới;
đồng thời ghi:
Nợ: Chi ngân sách
Có: Cấp phát lệnh chi tiền.
MỤC 4.
THANH TOÁN VÀ KHÓA SỔ CUỐI NĂM.
Điều 27
.
-
Để tạo điều kiện thuận tiện cho việc khóa sổ sách và lập quyết toán cuối mỗi năm, cơ quan tài chính phải xúc tiến các việc sau đây:
a) Ngay từ trong tháng 11, cơ quan tài chính phải:
1. Đôn đốc nộp hết vào kho bạc các số tiền đã thu cho ngân sách, đôn đốc thanh toán mọi khoản cho vay, tạm ứng, để đến ngày 31 tháng 12 có thể quyết toán mọi khoản và nộp hết số kinh phí còn thừa.
2. Đôn đốc kho bạc:
- Chuẩn bị thu nhận nhanh chóng các số tiền sẽ nộp dồn dập vào cuối năm, đối chiếu sổ sách cho khớp đúng giữa các đơn vị và kho bạc về các số thu nộp và cấp phát trong năm.
- Chuẩn bị báo cáo nhanh nhát, đầy đủ nhất và chính xác nhất mọi khoản thu, chi thực hiện từ 1 tháng 1 đến 31 tháng 12.
3. Đôn đốc các đơn vị dự toán chuẩn bị làm và gửi đúng hạn báo cáo quyết toán tháng 12 và báo cáo quyết toán cả năm.
4. Đôn đốc thanh toán các khoản tiền vay và cho vay, các khoản tiền trợ cấp hoặc phải nộp lên trên giữa ngân sách cấp trên và cấp dưới, và hoàn thành các công việc thanh toán này trước 31 tháng 12 bảo đảm số liệu ăn khớp giữa tài chính cấp trên và cấp dưới, giữa tài chính và ngân hàng Nhà nước các cấp.
5. Có thể cấp trước kinh phí năm sau cho một số cơ quan cần thiết phải chuẩn bị chi tiêu cho năm mới.
b) Ngày 31 tháng 12 năm cũ và ngày 1 tháng 1 năm mới, tổng kế toán các cấp phải tiến hành cân bằng các tài khoản như sau:
1. Chuyển sổ các tài khoản sau đây từ sổ năm cũ sang sổ năm mới:
- Tiền gửi của ngân sách.
- Thu trước cho năm sau.
- Thuế nông nghiệp vụ đông thu cho năm sau.
Ngoài ra, đặc biệt lắm và có lý do chính đáng, các tài khoản sau đây cũng được chuyển sổ:
- Cấp phát lệnh chi tiền.
- Tạm ứng.
- Vay ngân hàng Nhà nước.
- Vãng lai với tổng kế toán cấp trên.
- Vãng lai với tổng kế toán cấp dưới.
Tài khoản “vãng lai giữa hai niên độ trước và sau” dùng làm trung gian trong việc chuyển sổ, và ghi chép như sau:
- Khi chuyển sổ “tiền gửi của ngân sách” từ năm cũ sang năm mới thì ghi:
Ở sổ năm cũ, ngày 31 tháng 12:
Nợ: vãng lai giữa hai niên độ trước và sau
Có: Tiền gửi của ngân sách
Ở sổ năm mới, ngày 1 tháng 1
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: vãng lai giữa hai niên độ trước và sau
Khi chuyển sổ “Thu trước cho năm sau”, từ năm cũ sang năm mới, thì ghi:
Ở sổ năm cũ, ngày 31 tháng 12:
Nợ: Thu trước cho năm sau
Có: vãng lai giữa hai niên độ trước và sau
Ở sổ năm mới, ngày 1 tháng 1:
Nợ: vãng lai giữa hai niên độ trước và sau
Có: Thu ngân sách.
- Khi chuyển sổ “thuế nông nghiệp vụ đông thu cho năm sau” từ năm cũ sang năm mới thì ghi:
Ở sổ năm cũ, ngày 31 tháng 12:
Nợ: Thuế nông nghiệp vụ đông thu cho năm sau
Có: vãng lai giữa hai niên độ trước và sau
Ở sổ năm mới, ngày 1 tháng 1:
Nợ: vãng lai giữa hai niên độ trước và sau
Có: Thu ngân sách
Các tài khoản khác cũng chuyển sổ theo phương pháp như trên và sau khi chuyển sổ ở sổ Cái, phải chuyển sổ cả ở sổ phụ, để thuận tiện cho việc theo dõi và khớp đúng số liệu giữa sổ Cái và các sổ phụ.
Trường hợp năm trước cấp phát trước hay tạm ứng trước cho năm sau thì cũng sử dụng tài khoản “vãng lai giữa hai niên độ trước và sau” để làm trung gian chuyển sổ:
Ở sổ năm cũ, ngày 31 tháng 12, ghi:
Nợ: vãng lai giữa hai niên độ trước và sau
Có: Tiền gửi của ngân sách
Ở sổ năm mới, ngày 1 tháng 1:
Nợ: Cấp phát lệnh chi tiền hay tạm ứng
Có: vãng lai giữa hai niên độ trước và sau.
2. Trong thời gian chỉnh lý quyết toán từ 1 tháng 1 đến hết tháng 2 năm sau, khi nhận được báo cáo của kho bạc về những khoản thu thuộc niên độ trước thì ghi:
Ở sổ năm cũ:
Nợ: vãng lai giữa hai niên độ trước và sau.
Có:Thu ngân sách hay cấp phát lệnh chi tiền hay chi ngân sách hay tạm ứng.
Ở sổ năm mới:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: vãng lai giữa hai niên độ trước và sau
c) Sang năm mới, nhận được quyết toán chi về năm cũ thì ghi ở sổ năm cũ như sau:
Nợ: Chi ngân sách
Có: Cấp phát hạn mức hay cấp phát lệnh chi tiền.
d) Sang năm mới, nhận được báo cáo về thu thuế nông nghiệp vụ đông của kho bạc thì ghi ở sổ năm mới như sau:
Nợ: Tiền gửi của ngân sách
Có: Thu ngân sách
Điều 28
.
–
Công việc quyết toán và chỉnh lý quyết toán phải làm xong trước khi hết tháng 2 năm sau (đối với ngân sách địa phương) và trước hết tháng 6 năm sau (đối với ngân sách Nhà nước).
Trước khi hết tháng 2 và tháng 6 năm sau, các công việc liên hệ giữa hai niên độ trước và sau phải làm xong để cân bằng các tài khoản và khóa sổ sách năm cũ.
Việc chuyển sổ tiến hành như quy định ở điều 27. Việc kết chuyển và cân bằng hai tài khoản “thu ngân sách” và “chi ngân sách” để rút ra số kết dư cuối năm của ngân sách, đồng thời chuyển thu (đối với ngân sách địa phương) hay chuyển nộp (đối với ngân sách trung ương) số kết dư sang ngân hàng Nhà nước và cân bằng vãng lai giữa hai niên độ tiến hàng như sau:
a) Kết chuyển thu, chi ngân sách vào tài khoản kết dư và cân bằng hai tài khoản thu ngân sách và chi ngân sách;
Ở sổ năm cũ, ghi số dư Có “Thu ngân sách” vào:
Nợ: Thu ngân sách
Có: Kết dư của ngân sách.
Và ghi số dư Nợ “Chi ngân sách” vào:
Nợ: Kết dư của ngân sách
Có: Chi ngân sách;
đồng thời, rút số kết dư cuối năm của ngân sách ra và ghi:
Nợ: Kết dư của ngân sách
Có: Vãng lai giữa hai niên độ trước và sau.
Sau khi tất cả các tài khoản ở sổ Cái năm cũ đều đã cân bằng như trên thì gạch 2 gạch cuối cùng để khóa sổ năm cũ.
Ở sổ năm mới, chuyển kết dư sang để cân bằng tài khoản “Vãng lai giữa hai niên độ trước và sau” và ghi:
Nợ: Vãng lai giữa hai niên độ trước và sau
Có: Kết dư của ngân sách;
đồng thời, tùy trường hợp mà xử lý số kết dư cuối năm của ngân sách như sau, trong sổ sách năm mới:
Đối với ngân sách trung ương nếu chuyển kết dư sang làm vốn cho vay của ngân hàng thì ghi:
Nợ: Kết dư của ngân sách
Có: Chuyển kết dư ngân sách cho ngân hàng Nhà nước, và:
Nợ: Chuyển kết dư ngân sách cho ngân hàng Nhà nước
Có: Tiền gửi của ngân sách
Nếu giữ số kết dư ngân sách lại để nhập vào sổ thu năm mới của ngân sách để chi tiêu cho ngân sách thì ghi:
Nợ: Kết dư của ngân sách
Có: Thu ngân sách
Đối với ngân sách địa phương, số kết dư năm trước chuyển sang để chi tiêu cho ngân sách năm sau; ghi:
Nợ: Kết dư của ngân sách
Có: Thu ngân sách
Ở sổ sách năm mới sau khi xử lý tài khoản kết dư, tất cả các tài khoản có liên quan giữa hai niên độ trước và sau đều cân bằng, không được ghi chép gì thêm trong những tháng về sau, mà đợi đến cuối năm mới đến khi phát sinh những sự việc mới có liên quan đến năm mới và năm tiếp sau thì mới ghi chép.
Chương 5:
CHỨNG TỪ VÀ SỔ SÁCH KẾ TOÁN
MỤC 1
CHỨNG TỪ KẾ TOÁN