Đã lưuĐăng ký

Điều 13 222-TC/ĐKT

Điều 13 222-TC/ĐKT

Thẻ tài sản cố định lập xong phải được đăng ký vào sổ tài sản cố định của xí nghiệp và được bảo quản trong hòm thẻ tài sản cố định để tại phòng kế toán xí nghiệp.

Điều 13

Điều 13 - Thẻ tài sản cố định lập xong phải được đăng ký vào sổ tài sản cố định của xí nghiệp và được bảo quản trong hòm thẻ tài sản cố định để tại phòng kế toán xí nghiệp. Hòm thẻ tài sản cố định của xí nghiệp phải được thiết kế thuận tiện cho việc sắp xếp, kiểm tra và sử dụng thẻ hàng ngày. Hòm thẻ tài sản cố định chia làm ba ngăn lớn: - Ngăn thứ nhất xếp thẻ tài sản cố định đang dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản. - Ngăn thứ hai xếp thẻ tài sản cố định đang dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản. - Ngăn thứ ba xếp các loại thẻ tài sản cố định còn lại. Trong mỗi ngăn lớn lại được chia ra nhiều ngăn nhỏ để sắp xếp thẻ tài sản cố định phục vụ yêu cầu phân loại và theo dõi kiểm tra tình hình sử dụng tài sản cố định trong xí nghiệp. Trong ngăn thứ nhất: tài sản cố định đang dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản, thẻ tài sản cố định được sắp xếp theo cách phân loại theo kết cấu (nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị truyền dẫn v.v...) và trong mỗi loại, thẻ được xếp theo đơn vị sử dụng. Trong ngăn thứ hai: tài sản cố định đang dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản, thẻ được xếp theo lĩnh vực hoạt động (theo các đơn vị sản xuất kinh doanh ngoài cơ bản), trong mỗi lĩnh vực hoạt động thẻ lại được sắp xếp theo kết cấu. Trong ngăn thứ ba thẻ tài sản cố định được sắp xếp theo các loại khác nhau: tài sản cố định đang sửa chữa lớn, tài sản cố định chờ thanh lý, tài sản cố định không cần dùng, tài sản dự trữ ... và lưu trữ tạm thời các thẻ tài sản cố định của những tài sản cố định đã thanh lý, nhượng bán, chuyển giao.

Xem toàn văn văn bản →

Các điều khác trong Thông tư Ban hành chế độ kế toán tài sản cố định trong các xí nghiệp quốc doanh

Xem văn bản gốc ↗ · Dữ liệu tính đến 04/07/2026

Trích dẫnThông tư Ban hành chế độ kế toán tài sản cố định trong các xí nghiệp quốc doanh Điều 13 (LawPlayer, dữ liệu tính đến 04/07/2026)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp Việt Nam. Văn bản quy phạm pháp luật không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả theo khoản 2 Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ. Khi đăng lại phải ghi rõ nguồn (theo điều khoản của Công báo).

Tra cứu tiếp