Đã lưuĐăng ký
Nguồn

Thông tư Quy định về chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông Chương II — PHÂN CÔNG, PHÂN CẤP; QUẢN LÝ, VẬN HÀNH, KHAI THÁC HỆ THỐNG ĐÈN TÍN HIỆU GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ; SỬ DỤNG THIẾT BỊ THÔNG MINH HỖ TRỢ CHỈ HUY, ĐIỀU KHIỂN GIAO THÔNG VÀ TRÌNH TỰ CHỈ HUY, ĐIỀU KHIỂN GIAO THÔN

Điều 8–Điều 16 · 9 điều

Xem văn bản gốc ↗

Phân công, phân cấp trong công tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ

Điều 8

Tab mới ↗

Điều 8. Phân công, phân cấp trong công tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ 1. Đơn vị được giao nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ trên tuyến, địa bàn nào thì thực hiện công tác chỉ huy, điều khiển giao thông trên tuyến, địa bàn đó hoặc theo chỉ đạo của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Giám đốc Công an cấp tỉnh. 2. Cục Cảnh sát giao thông tổ chức thực hiện công tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ trên các tuyến cao tốc được giao quản lý; chỉ đạo triển khai công tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ, phối hợp phân luồng giao thông tại các tuyến giao thông đường bộ trên phạm vi toàn quốc khi xảy ra các tình huống giao thông phức tạp có liên quan đến nhiều địa phương hoặc yêu cầu khác về bảo đảm an ninh, trật tự. 3. Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình thực tế để quyết định việc phân công, phân cấp công tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ trên tuyến, địa bàn thuộc phạm vi quản lý.

Quản lý, vận hành, khai thác hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ

Điều 9

Tab mới ↗

Điều 9. Quản lý, vận hành, khai thác hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ 1. Hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ phải được kết nối dữ liệu với Trung tâm chỉ huy giao thông để đáp ứng các yêu cầu về quản lý, điều hành, chỉ huy, chỉ đạo và thống kê trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. 2. Khi quản lý, vận hành hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ, lực lượng Cảnh sát giao thông có trách nhiệm như sau: a) Tham mưu, đề xuất, kiến nghị về chính sách quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ phù hợp với tổ chức, hạ tầng giao thông; vận hành, khai thác có hiệu quả các thiết bị của hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ, nghiên cứu áp dụng điều khiển giao thông thông minh; b) Bố trí lực lượng theo dõi, cập nhật tình hình trật tự, an toàn giao thông và thông tin có liên quan trên các tuyến giao thông đường bộ để kịp thời điều chỉnh chu kỳ tín hiệu đèn giao thông cho phù hợp; phối hợp với các lực lượng làm nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến, địa bàn để chỉ huy, điều khiển, phân luồng giao thông khi có xe ưu tiên lưu thông hoặc phát hiện ùn tắc, tai nạn, sự cố về giao thông và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông. c) Thường xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình hoạt động của hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ để báo cáo, đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền việc bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế kịp thời khi phát hiện hư hỏng, bảo đảm hệ thống hoạt động ổn định, liên tục.

Sử dụng thiết bị thông minh hỗ trợ chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ

Điều 10

Tab mới ↗

Điều 10. Sử dụng thiết bị thông minh hỗ trợ chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ 1. Việc sử dụng thiết bị thông minh hỗ trợ chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ phải đáp ứng các yêu cầu về an ninh, quốc phòng, nghiệp vụ của Cảnh sát giao thông và an toàn cho người, phương tiện tham gia giao thông. 2. Thiết bị thông minh hỗ trợ chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ được sử dụng để ghi nhận các thông tin, dữ liệu về tình hình giao thông trên các tuyến giao thông và truyền tải thông tin, dữ liệu về Trung tâm chỉ huy giao thông; căn cứ tình hình lưu lượng, mật độ người và phương tiện tham gia giao thông, lực lượng Cảnh sát giao thông phải chỉ đạo kịp thời việc điều chỉnh hoạt động của hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ hoặc triển khai phương án bố trí lực lượng, phương tiện tổ chức phân luồng, phân tuyến giao thông, xử lý, khắc phục các tình huống gây mất trật tự, an toàn giao thông hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc bảo đảm an ninh, trật tự. 3. Cung cấp các thông tin về tình hình trật tự, an toàn giao thông trên các phương tiện thông tin đại chúng cho người tham gia giao thông biết để lựa chọn thời gian, lộ trình di chuyển phù hợp.

Xây dựng, triển khai kế hoạch công tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ

Điều 11

Tab mới ↗

Điều 11. Xây dựng, triển khai kế hoạch công tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ 1. Căn cứ kế hoạch của cấp trên và tình hình thực tế về trật tự, an toàn giao thông, yêu cầu về an ninh, trật tự, các đơn vị Cảnh sát giao thông xây dựng kế hoạch công tác theo thẩm quyền và địa bàn được phân công, bố trí lực lượng, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông (theo mẫu số 03A/69 ban hành kèm theo Thông tư này). Việc bố trí lực lượng phải phù hợp với tình hình, đặc điểm tại từng vị trí, nút giao thông. Đối với các vị trí, nút giao thông bố trí từ 02 Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông trở lên phải phân công 01 đồng chí làm Tổ trưởng, các đồng chí còn lại làm Tổ viên. 2. Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông trước khi thực hiện nhiệm vụ phải nắm vững nội dung kế hoạch, vị trí được phân công; chuẩn bị đầy đủ, kiểm tra kỹ các phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ, tài liệu liên quan và những trang thiết bị khác phục vụ công tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ. 3. Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông phải có mặt tại vị trí làm nhiệm vụ trước 10 phút để nắm tình hình trật tự, an toàn giao thông và nhận những vụ việc phải giải quyết tiếp do ca trước bàn giao (nếu có); kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ, nếu hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ hoạt động không bình thường thì báo cáo ngay chỉ huy đơn vị hoặc Trung tâm chỉ huy giao thông để khắc phục. Khi hết ca công tác mà tình hình trật tự, an toàn giao thông còn phức tạp thì báo cáo chỉ huy đơn vị để chỉ đạo và tiếp tục phối hợp với Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông của ca tiếp theo giải quyết cho đến khi tình hình trật tự, an toàn giao thông trở lại bình thường. 4. Kết thúc ca công tác, Tổ trưởng hoặc Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông (khi có 01 Cảnh sát) phải tổng hợp tình hình, báo cáo kết quả công tác (theo mẫu số 03B/69 ban hành kèm theo Thông tư này) và bàn giao các trang thiết bị, phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ, hồ sơ vụ việc với chỉ huy hoặc trực ban đơn vị.

Hình thức hoạt động của Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông

Điều 12

Tab mới ↗

Điều 12. Hình thức hoạt động của Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông 1. Chỉ huy, điều khiển giao thông trực tiếp trên tuyến giao thông đường bộ a) Chỉ huy, điều khiển giao thông tại nút giao thông; b) Chỉ huy, điều khiển giao thông tại một vị trí hoặc một khu vực trên đường giao thông khi xảy ra ùn tắc giao thông đường bộ; c) Chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ tại khu vực diễn ra các sự kiện, lễ hội, hội nghị. 2. Chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ tại Trung tâm chỉ huy giao thông.

Phân công nhiệm vụ của Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông trực tiếp trên tuyến giao thông đường bộ

Điều 13

Tab mới ↗

Điều 13. Phân công nhiệm vụ của Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông trực tiếp trên tuyến giao thông đường bộ 1. Chỉ huy, điều khiển giao thông tại nút giao thông a) Đối với nút giao thông có 01 Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông Trường hợp trật tự, an toàn giao thông tại nút giao thông bình thường, Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông phải đứng ở vị trí thuận lợi, dễ theo dõi và quan sát để hướng dẫn người tham gia giao thông đi lại trật tự, an toàn, đúng quy định; phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm trật tự, an toàn giao thông, giải quyết ban đầu các vụ vi phạm pháp luật khác hoặc tai nạn giao thông và thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định. Trường hợp tại nút giao thông có diễn biến phức tạp về trật tự, an toàn giao thông, Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông đứng ở vị trí trung tâm nút hoặc đứng trên bục để chỉ huy, điều khiển giao thông nếu nút giao thông có bố trí bục điều khiển giao thông; b) Đối với nút giao thông có từ 02 Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông trở lên Tổ trưởng có nhiệm vụ chỉ huy, điều hành và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Tổ công tác; phân công vị trí cụ thể cho từng Tổ viên. Khi đèn tín hiệu giao thông hoạt động không bình thường hoặc mật độ người và phương tiện tham gia giao thông đông thì tự mình hoặc phân công đồng chí Tổ viên đứng ở vị trí trung tâm nút giao thông hoặc đứng trên bục để chỉ huy, điều khiển giao thông nếu nút giao thông có bố trí bục điều khiển giao thông; chỉ đạo, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ và thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định. Tổ viên đứng ở mép đường ngang vạch dừng hoặc giữa tim đường ngang vạch dừng (đứng ở chiều đường chính, có mật độ người và phương tiện tham gia giao thông đông hoặc phức tạp về trật tự, an toàn giao thông); khi thay đổi tín hiệu đèn giao thông thì tuỳ tình hình phức tạp về trật tự, an toàn giao thông của các chiều đường, Tổ viên có thể di chuyển vị trí sang chiều đường khác. Tổ viên có nhiệm vụ điều hành, hướng dẫn người tham gia giao thông đi lại trật tự, an toàn theo hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông hoặc hiệu lệnh của người điều khiển giao thông đứng ở vị trí trung tâm nút giao thông hoặc trên bục điều khiển giao thông; phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm trật tự, an toàn giao thông, giải quyết ban đầu các vụ vi phạm pháp luật khác hoặc tai nạn giao thông theo quy định; thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổ trưởng phân công; c) Phạm vi hoạt động của Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông là từ trung tâm nút giao thông đến các vạch dừng xe hoặc đường giới hạn phạm vi nơi giao nhau. Trường hợp có các vụ việc liên quan đến trật tự, an toàn xã hội hoặc tai nạn, ùn tắc giao thông xảy ra bên ngoài khu vực nút giao thông thì Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông phải trực tiếp hoặc phối hợp với các lực lượng khác để giải quyết theo quy định. 2. Chỉ huy, điều khiển giao thông tại một vị trí hoặc một khu vực trên đường giao thông khi xảy ra ùn tắc giao thông đường bộ Căn cứ vào tình hình và mức độ ùn tắc giao thông để bố trí lực lượng chỉ huy, điều khiển giao thông tại các vị trí trên đường giao thông. Việc bố trí lực lượng thực hiện theo quy định sau: a) Bố trí lực lượng tại các điểm phân luồng ở vòng ngoài cùng phía ùn tắc giao thông. Tại các điểm này, lực lượng được phân công có nhiệm vụ hướng dẫn, phân luồng giao thông hoặc tạm dừng các phương tiện từ xa theo phương án phòng ngừa và giải quyết ùn tắc giao thông hoặc theo chỉ đạo của cấp trên để hạn chế các phương tiện đi vào khu vực ùn tắc giao thông, tạo điều kiện cho các phương tiện đi từ khu vực ùn tắc giao thông ra; b) Bố trí lực lượng trên dọc tuyến phía khu vực ùn tắc giao thông để điều khiển, hướng dẫn giao thông, không cho các phương tiện lấn chiếm phần đường của nhau và nhanh chóng giải tỏa từ ngoài đến khu vực ùn tắc giao thông, tạo điều kiện cho xe cứu hộ, cứu nạn và các lực lượng nhanh chóng tiếp cận hiện trường để giải quyết các nguyên nhân gây ra ùn tắc giao thông. 3. Chỉ huy, điều khiển giao thông trên đường bộ tại khu vực diễn ra các sự kiện, lễ hội, hội nghị Căn cứ vào tình hình thực tế về trật tự, an toàn giao thông, yêu cầu về an ninh, trật tự và quy mô, tính chất, mức độ quan trọng của sự kiện, lễ hội, hội nghị được tổ chức, các đơn vị Cảnh sát giao thông tổ chức khảo sát, xây dựng kế hoạch hoặc phương án bố trí lực lượng để hướng dẫn, điều khiển giao thông, phân luồng, phân tuyến tại các nút giao thông, các điểm phức tạp về trật tự, an toàn giao thông trong khu vực tổ chức sự kiện, lễ hội, hội nghị và trên các tuyến đường xung quanh bảo đảm giao thông trật tự, an toàn, thông suốt.

Chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ tại Trung tâm chỉ huy giao thông

Điều 14

Tab mới ↗

Điều 14. Chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ tại Trung tâm chỉ huy giao thông 1. Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông có trách nhiệm tiếp nhận, ghi nhận thông tin, theo dõi, giám sát, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình liên quan đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ qua hệ thống camera và các công cụ theo dõi khác kết nối về Trung tâm chỉ huy giao thông để triển khai thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch, phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. 2. Khi xảy ra các tình huống phức tạp về trật tự, an toàn giao thông hoặc yêu cầu về bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn được giao quản lý, Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông phải kịp thời điều chỉnh chu kỳ tín hiệu đèn giao thông hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền để chỉ đạo bố trí lực lượng, phân luồng, phân tuyến giao thông, xử lý vi phạm về trật tự, an toàn giao thông, cung cấp thông tin về tình trạng giao thông cho người tham gia giao thông hoặc thông tin cho các đơn vị chức năng để điều động lực lượng, phương tiện thực hiện nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ theo quy định. 3. Trung tâm chỉ huy giao thông quốc gia trực tiếp chỉ đạo công tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ trên các tuyến cao tốc do Cục Cảnh sát giao thông được giao quản lý và chỉ đạo Trung tâm chỉ huy giao thông tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện công tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. 4. Trung tâm chỉ huy giao thông tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm: a) Tổ chức triển khai thực hiện các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này và chỉ đạo của Trung tâm chỉ huy giao thông quốc gia; b) Trường hợp xảy ra các tình huống phức tạp về trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến giao thông đường bộ trong phạm vi quản lý có nguy cơ lan rộng đến nhiều tỉnh, thành phố lân cận, liên tuyến phải báo cáo ngay về Trung tâm chỉ huy giao thông quốc gia để chỉ đạo kịp thời.

Sử dụng âm hiệu còi, loa trong chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ

Điều 15

Tab mới ↗

Điều 15. Sử dụng âm hiệu còi, loa trong chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ 1. Âm hiệu còi được sử dụng kết hợp với động tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ, cụ thể: a) Một tiếng còi dài, mạnh là báo hiệu dừng lại; b) Một tiếng còi ngắn, nhanh là cho phép lưu thông; c) Một tiếng còi dài và một tiếng còi ngắn là cho phép rẽ trái qua mặt; d) Hai tiếng còi ngắn, mạnh là báo hiệu đi chậm lại; đ) Ba tiếng còi ngắn, nhanh là báo hiệu đi nhanh lên; e) Thổi liên tiếp tiếng một, nhiều lần, mạnh là báo hiệu phương tiện dừng lại để kiểm soát hoặc báo hiệu phương tiện vi phạm. 2. Đối với một số vị trí nhất định có tình hình trật tự, an toàn giao thông phức tạp, Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông được sử dụng loa gắn trên các phương tiện, loa pin cầm tay để nhắc nhở, hướng dẫn hoặc yêu cầu người tham gia giao thông chấp hành công tác chỉ huy, điều khiển giao thông của lực lượng chức năng.

Động tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ

Điều 16

Tab mới ↗

Điều 16. Động tác chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ 1. Động tác báo hiệu cấm lưu thông tất cả các chiều đường (theo mẫu số 04A, 04B và 04C ban hành kèm theo Thông tư này) a) Đứng nghiêm; b) Thổi một tiếng còi dài, mạnh; đồng thời, tay phải cầm gậy áp sát vào thân người, quay từ từ về phía trước theo chiều kim đồng hồ và giơ tay thẳng lên, lòng bàn tay hướng vào trước đỉnh đầu, gậy thẳng đứng, tay trái buông thẳng theo đường chỉ quần, động tác này có hiệu lực cấm lưu thông đối với người và phương tiện tham gia giao thông ở tất cả các chiều đường. Trường hợp người và phương tiện tham gia giao thông còn đang lưu thông trong phạm vi nút giao thông thì cho phép nhanh chóng đi khỏi nút giao thông. Ở nút giao thông có quy định vị trí dừng cho người và phương tiện tham gia giao thông thì phải dừng lại đúng vị trí quy định. 2. Động tác báo hiệu cho phép lưu thông (theo mẫu số 05A, 05B và 05C ban hành kèm theo Thông tư này) Sau hiệu lệnh cấm lưu thông tất cả các chiều đường (khi người và phương tiện tham gia giao thông trong phạm vi nút giao thông đã đi qua hết, trừ nút có quy định vị trí dừng cho người và phương tiện tham gia giao thông phải dừng), phải cho phép lưu thông, thời gian tuỳ theo lưu lượng và tình hình giao thông ở các chiều đường. Trình tự động tác báo hiệu như sau: a) Từ tư thế thực hiện cấm lưu thông tất cả các chiều đường; b) Thổi một tiếng còi ngắn, nhanh; đồng thời, tay trái từ từ đưa lên, tay phải cầm gậy quay về phía trước mặt ngược chiều kim đồng hồ cho đến khi hai tay dang ngang bằng vai, tay phải cầm gậy tạo thành một đường thẳng song song với mặt đất, lòng bàn tay úp xuống. Khi thực hiện động tác báo hiệu cho phép lưu thông nếu thời gian cho phép lưu thông nhiều thì Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông có thể bỏ một tay xuống. Động tác cho phép lưu thông là hiệu lệnh cho người và phương tiện tham gia giao thông ở bên phải và bên trái của Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông được đi, người và phương tiện tham gia giao thông từ phía trước và sau của Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông phải dừng lại. 3. Động tác báo hiệu cho bên phải đi nhanh hơn (theo mẫu số 06 ban hành kèm theo Thông tư này) Từ tư thế báo hiệu cho phép lưu thông, gập cánh tay phải cầm gậy từ khuỷu tay đến bàn tay về phía trước ngực, cánh tay phải và gậy thẳng, sau đó duỗi ra như động tác báo hiệu cho phép lưu thông, tay gập đi gập lại ít nhất ba lần, mỗi lần kết hợp với ba tiếng còi ngắn, nhanh, mắt hướng về bên phải. 4. Động tác báo hiệu cho bên trái đi nhanh hơn (theo mẫu số 07 ban hành kèm theo Thông tư này) Từ tư thế báo hiệu cho phép lưu thông, gập cánh tay trái từ khuỷu tay đến bàn tay về phía sau gáy, tay hơi chếch lên, lòng bàn tay hướng vào gáy, sau đó lại duỗi ra như động tác báo hiệu cho phép lưu thông, tay gập đi gập lại ít nhất ba lần, mỗi lần kết hợp với ba tiếng còi ngắn, nhanh, mắt hướng về bên trái. 5. Động tác báo hiệu cho bên phải đi chậm lại (theo mẫu số 08A và 08B ban hành kèm theo Thông tư này) Từ tư thế báo hiệu cho phép lưu thông, tay phải cầm gậy kéo về ngang thắt lưng, gậy buông thẳng theo đường chỉ quần, lòng bàn tay phải úp xuống, đưa lên đưa xuống ít nhất ba lần, mỗi lần kết hợp với hai tiếng còi ngắn, mạnh, mắt hướng về bên phải. 6. Động tác báo hiệu cho bên trái đi chậm lại (theo mẫu số 09A và 09B ban hành kèm theo Thông tư này) Từ tư thế báo hiệu cho phép lưu thông, tay trái kéo về ngang thắt lưng, lòng bàn tay úp xuống, đưa lên đưa xuống ít nhất ba lần, mỗi lần kết hợp với hai tiếng còi ngắn, mạnh, mắt hướng về phía bên trái. 7. Động tác báo hiệu cho bên phải dừng lại (theo mẫu số 10 ban hành kèm theo Thông tư này) Từ tư thế báo hiệu cho phép lưu thông, tay phải cầm gậy, cổ tay quay từ từ theo hướng thẳng đứng và vuông góc với cánh tay, kết hợp một tiếng còi dài, mạnh, báo hiệu cho phương tiện bên phải dừng lại, mắt hướng về bên phải. 8. Động tác báo hiệu cho bên trái dừng lại (theo mẫu số 11 ban hành kèm theo Thông tư này) Từ tư thế báo hiệu cho phép lưu thông, cổ tay trái quay từ từ theo hướng thẳng đứng và vuông góc với cánh tay, lòng bàn tay trái hướng về phía bên trái, kết hợp một tiếng còi dài, mạnh, báo hiệu cho phương tiện bên trái dừng lại, mắt hướng về phía bên trái. 9. Động tác báo hiệu cho phương tiện rẽ trái qua mặt (theo mẫu số 12A, 12B và 12C ban hành kèm theo Thông tư này) a) Từ tư thế báo hiệu cho phép lưu thông, tay phải cầm gậy quay từ từ về phía trước giơ thẳng ngang vai, lòng bàn tay úp xuống, kết hợp với một tiếng còi dài, mạnh. Tay trái đưa từ từ về phía trước mặt theo hướng từ dưới lên trên, tay thẳng, lòng bàn tay trái ở tư thế úp từ từ lật nghiêng đến thẳng đứng, tay đưa đi đưa lại ít nhất ba lần, mỗi lần kết hợp với một tiếng còi ngắn, mắt hướng về phía bên trái, nơi có phương tiện được phép rẽ trái qua mặt; b) Với tư thế này, các loại phương tiện, người đi bộ từ phía bên phải và phía sau Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông đều phải dừng lại; phía trước, các loại phương tiện được phép rẽ phải; phía bên trái Cảnh sát chỉ huy, điều khiển giao thông các loại phương tiện được phép đi tất cả các hướng. Chương III GIẢI QUYẾT MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ TRONG KHI LÀM NHIỆM VỤ CHỈ HUY, ĐIỀU KHIỂN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Về toàn văn Thông tư Quy định về chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp