Điều 19. Phiên họp Chính phủ thường kỳ và phiên họp Chính phủ bất thường
1. Chính phủ họp thường kỳ mỗi tháng một lần.
2. Chính phủ họp bất thường theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc theo yêu cầu của ít nhất 1/3 tổng số thành viên Chính phủ.
Trừ trường hợp đặc biệt, đột xuất, việc chuẩn bị, triệu tập, tổ chức và các việc khác liên quan đến phiên họp bất thường được thực hiện như đối với phiên họp thường kỳ.
3. Thủ tướng Chính phủ chủ tọa phiên họp Chính phủ. Khi Thủ tướng vắng mặt, Phó Thủ tướng Thường trực thay Thủ tướng chủ tọa phiên họp.
4. Thủ tướng, các Phó Thủ tướng chủ trì việc thảo luận các đề án trình Chính phủ theo lĩnh vực được phân công.
Điều 20. Chuẩn bị phiên họp Chính phủ
1. Thủ tướng Chính phủ quyết định nội dung, thành phần khách mời, thời gian và chương trình phiên họp Chính phủ.
Phiên họp Chính phủ thường kỳ bắt đầu vào ngày thứ Tư, tuần cuối cùng trong tháng. Thủ tướng có thể quyết định thay đổi ngày họp khi cần thiết. Việc thay đổi này phải được Văn phòng Chính phủ thông báo trước cho các thành viên Chính phủ ít nhất 5 ngày làm việc trước ngày phiên họp bắt đầu.
2. Văn phòng Chính phủ có nhiệm vụ:
a) Kiểm tra, tổng hợp các hồ sơ đề án trình ra phiên họp;
b) Chuẩn bị chương trình nghị sự phiên họp, dự kiến thành phần họp.
Chậm nhất 7 ngày làm việc trước ngày phiên họp bắt đầu, Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chính thức nội dung, chương trình, thời gian họp, thành phần tham dự phiên họp Chính phủ và thông báo cho các thành viên Chính phủ quyết định của Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề nêu trên.
3. Chậm nhất 10 ngày làm việc (trường hợp đặc biệt là 5 ngày làm việc) trước phiên họp Chính phủ, chủ đề án phải gửi tài liệu đã được Thủ tướng (hoặc Phó Thủ tướng) xem xét và cho trình ra phiên họp theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 17 Quy chế này tới Văn phòng Chính phủ. Số lượng tài liệu gửi trình Chính phủ để xem xét tại phiên họp thường kỳ là 80 bộ.
4. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ mời Chủ tịch nước và các thành phần nêu tại Khoản 2 Điều 21 Quy chế này dự họp Chính phủ;
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ mời các thành viên Chính phủ và các thành phần nêu tại Khoản 3 Điều 21 Quy chế này dự họp Chính phủ.
5. Giấy mời họp và tài liệu họp phải được gửi đến các thành viên Chính phủ và đại biểu được mời trước khi họp ít nhất là 5 ngày làm việc, trừ trường hợp đặc biệt.
Điều 21. Thành phần dự họp Chính phủ
1. Các Thành viên Chính phủ có trách nhiệm tham dự đầy đủ các phiên họp Chính phủ, nếu vắng mặt trong phiên họp hoặc vắng mặt một số thời gian của phiên họp thì phải báo cáo bằng văn bản và được Thủ tướng đồng ý.
Thủ tướng có thể cho phép thành viên Chính phủ vắng mặt được cử người Phó dự phiên họp Chính phủ. Người dự họp thay có trách nhiệm trình bày trước Chính phủ ý kiến của thành viên Chính phủ vắng mặt (nếu có).
Phiên họp Chính phủ được tiến hành khi có ít nhất 2/3 tổng số thành viên của Chính phủ tham dự.
2. Chính phủ mời Chủ tịch nước dự tất cả các phiên họp của Chính phủ;
Chính phủ mời Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội dự các phiên họp của Chính phủ bàn về các đề án liên quan đến chính sách dân tộc; mời Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, người đứng đầu cơ quan trung ương các đoàn thể nhân dân dự họp Chính phủ khi thảo luận những vấn đề có liên quan.
3. Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đại diện các Ban của Đảng, các Uỷ ban của Quốc hội và các đại biểu khác được mời dự họp Chính phủ khi cần thiết.
Đại biểu không phải là thành viên Chính phủ được phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết.
Điều 22. Trình tự phiên họp Chính phủ
Phiên họp Chính phủ tiến hành theo trình tự sau đây:
1. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo số thành viên Chính phủ có mặt, vắng mặt, những người dự họp thay và những người được mời tham dự; nội dung và dự kiến chương trình phiên họp.
2. Chủ tọa bắt đầu điều khiển phiên họp.
3. Chính phủ thảo luận từng đề án theo trình tự:
a) Nếu đề án đã được gửi đến các thành viên Chính phủ để xin ý kiến bằng phiếu thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo tổng hợp kết quả Phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ về nội dung đề án, nêu rõ những vấn đề đã được thống nhất, những vấn đề chưa được thống nhất cần Chính phủ thảo luận và biểu quyết.
b) Trường hợp đề án và Phiếu lấy ý kiến chưa được gửi trước đến các Thành viên Chính phủ, chủ đề án trình bày tóm tắt đề án và những vấn đề cần xin ý kiến Chính phủ; đại diện cơ quan thẩm định phát biểu ý kiến thẩm định.
c) Các thành viên Chính phủ phát biểu ý kiến, nói rõ tán thành hay không tán thành điểm nào về từng vấn đề cụ thể nêu trên, không phát biểu về các vấn đề đã thống nhất trong phạm vi đề án. Đại biểu không phải thành viên Chính phủ được mời phát biểu ý kiến về các vấn đề liên quan trong phạm vi đề án. Thời gian một lần phát biểu không quá 10 phút.
d) Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng chủ trì thảo luận đề án kết luận và lấy biểu quyết của Chính phủ;
Nếu thấy vấn đề thảo luận chưa đủ rõ, Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng chủ trì thảo luận đề án đề nghị Chính phủ chưa biểu quyết và yêu cầu chủ đề án chuẩn bị thêm.
4. Trường hợp xét thấy cần thiết, Thủ tướng quyết định việc thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ báo cáo Chính phủ một số thông tin chuyên đề về ngành, lĩnh vực mà mình quản lý ngoài các báo cáo định kỳ theo phân công tại Điều 44 Quy chế này.
5. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo Chính phủ về các quyết nghị của Chính phủ giữa hai phiên họp.
6. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trình Chính phủ thông qua Nghị quyết phiên họp Chính phủ.
7. Chủ tọa phát biểu kết thúc phiên họp Chính phủ.
Điều 23. Biên bản phiên họp Chính phủ
1. Biên bản phiên họp Chính phủ là văn bản ghi đầy đủ, trung thực ý kiến phát biểu của các thành viên Chính phủ và các đại biểu dự họp, diễn biến của phiên họp, kết luận của Thủ tướng, Phó Thủ tướng về từng đề án, các kết quả biểu quyết tại phiên họp, kết luận của chủ tọa tại phiên họp.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ tổ chức việc ghi biên bản và ký biên bản phiên họp Chính phủ.
2. Biên bản phiên họp cùng với các tài liệu lưu hành trong phiên họp được lưu vào hồ sơ Nhà nước và được bảo quản theo chế độ bảo mật.
Việc tra cứu, tham khảo nội dung biên bản phiên họp Chính phủ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ quyết định.
Nghị quyết phiên họp Chính phủ và việc ban hành các văn bản đã được Chính phủ thông qua tại phiên họp
Điều 24. Nghị quyết phiên họp Chính phủ và việc ban hành các văn bản đã được Chính phủ thông qua tại phiên họp
1. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ tổ chức việc biên soạn nghị quyết phiên họp Chính phủ.
2. Nghị quyết phiên họp Chính phủ phải thể hiện đầy đủ, rõ ràng các quyết nghị của tập thể Chính phủ tại phiên họp; trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trong việc thực hiện các quyết nghị của Chính phủ.
3. Việc ban hành các văn bản đã được Chính phủ thông qua tại phiên họp thực hiện theo quy định tại Chương V Quy chế này.
Chương 5:
BAN HÀNH VÀ CÔNG BỐ CÁC VĂN BẢN CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ