Điều 13: Căn cứ để thi hành án.
Khi bản án, quyết định của Toà án được thi hành thì Toà án đã tuyên bản án hoặc ra quyết định đó phải cấp cho người được thi hành án và người phải thi hành án bản trích lục bản án hoặc quyết định có ghi: "để thi hành".
Điều 14: Quyền yêu cầu thi hành án.
Người được thi hành án căn cứ vào bản trích lục bản án, quyết định có quyền yêu cầu người phải thi hành án thi hành.
Nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì người được thi hành án có quyền gửi đơn đến Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm hoặc sở thẩm đồng thời là chung thẩm vụ án để yêu cầu thi hành án, Bản trích lục bản án, quyết định của Toà án phải được gửi kèm theo đơn yêu cầu thi hành án.
Chánh án Toà án chủ động ra quyết định thi hành án.
Điều 15: Chánh án Toà án chủ động ra quyết định thi hành án.
Những bản án, quyết định được Chánh án Toà án chủ động ra quyết định thi hành bao gồm:
1- Bản án, quyết định nói tại khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh này;
2- Bản án, quyết định về trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa, phạt tiền, tịch thu tài sản và án phí.
Điều 16: Thời hiệu thi hành án.
1- Trong thời hạn ba năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án là công dân có quyền gửi đơn đến Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm hoặc sơ thẩm đồng thời là chung thẩm vụ án để yêu cầu thi hành án. Trong thời hạn đó, nếu người được thi hành án không yêu cầu thi hành thì bản án, quyết định hết hiệu lực thi hành.
Thời hạn được tình theo ngày Toà án nhận đơn, nếu đơn được trực tiếp đưa đến Toà án hoặc tính theo ngày gửi ghi trên dấu bưu điện, nếu đơn gửi qua bưu điện.
Trong trường hợp đơn yêu cầu thi hành án được trả lại theo quy định tại Điều 21 của Pháp lệnh này thì thời hạn ba năm được tính từ ngày trả lại đơn yêu cầu thi hành án.
Bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn ba năm tính từ ngày việc thi hành án bị ngừng.
2- Trong thời hạn một năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu cơ quan, tổ chức được thi hành án không yêu cầu thi hành thì Toà án nộp tài sản thu được do thi hành án vào ngân sách Nhà nước.
3- Trong trường hợp người được thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan nên không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời hạn thi hành án được tính từ khi trở ngại đó không còn.
Việc khôi phục thời hiệu thi hành án do Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án xét và quyết định.
Điều 17: Tự nguyện thi hành án và cưỡng chế thi hành án.
1- Sau khi nhận được quyết định thi hành án chấp hành viên định cho người phải thi hành án thời hạn không quá một tháng để tự nguyện thi hành.
Trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án phân tán hoặc huỷ hoại tài sản thì chấp hành viên quyết định kê biên ngay tài sản.
Nếu hết thời hạn tự nguyện thi hành mà người phải thi hành án không thi hành thì chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế quy định tại Chương IV của Pháp lệnh này.
2- Người phải thi hành án phải chịu mọi chi phí về việc cưỡng chế thi hành án.
3- Không được áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau, trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án phân tán hoặc huỷ hoại tài sản, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Điều 18: Hoãn thi hành án.
1- Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có quyền hoãn thi hành án trong những trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án ốm nặng mà theo bản án, quyết định thì người đó có nghĩa vụ phải tự mình thực hiện;
b) Người được thi hành án yêu cầu hoặc đồng ý cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành;
c) Chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án.
Khi điều kiện hoãn thi hành án đã hết, thì bản án, quyết định được tiếp tục thi hành.
2- Khi cần thiết, Chánh án Toà án hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền yêu cầu hoãn thi hành án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Chánh án Toà án được yêu cầu phải ra quyết định hoãn thi hành án trong thời hạn không quá ba tháng.
Điều 19: Tạm đình chỉ thi hành án.
1- Người đã kháng nghị bán án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định đó.
2- Khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 18 của Pháp lệnh này thì Chánh án đã ra quyết định thi hành án có quyền tạm đình chỉ thi hành án cho đến khi điều kiện tạm đình chỉ đã hết.
Điều 20: Đình chỉ thi hành án.
Chánh án toà án đã ra quyết định thi hành án có quyền đình chỉ việc thi hành trong những trường hợp sau đây:
1- Người phải thi hành án chết mà theo bản án, quyết định thì nghĩa vụ thực hiện không được chuyển cho người thừa kế;
2- Người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích theo bản án, quyết định không được thừa kế;
3- Người được thi hành án là cá nhân, tổ chức kinh tế tư nhân tự nguyện yêu cầu không thi hành án nữa;
4- Bản án, quyết định bị Toà án có thẩm quyền huỷ bỏ;
5- Thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết.
Trong trường hợp quy định tại điểm 3 Điều này, người được thi hành án sau đó không có quyền yêu cầu thi hành án trở lại.
Điều 21: Trả lại đơn yêu cầu thi hành án.
Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có quyền trả lại đơn yêu cầu thi hành án và bản trích lục bản án hoặc quyết định cho người được thi hành án trong trường hợp có quyết định đình chỉ việc thi hành án hoặc có căn cứ xác định người phải thi hành án không có tài sản để thi hành án. Khi người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành bản án, quyết định trong thời hạn quy định tại Điều 16 của Pháp lệnh này.
Điều 22: Gửi các quyết định về thi hành án.
Các quyết định thi hành án, cưỡng chế thi hành án, hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án, đình chỉ thi hành án, khôi phục thời hiệu thi hành án, phạt tiền, trả lại đơn yêu cầu thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến việc thi hành án.
Chương 4:
CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHỄ THI HÀNH ÁN