Điều 23: Kê biên tài sản.
1- Chấp hành viên tiến hành kê biên tài sản của người phải thi hành án. Tài sản thuộc sở hữu riêng được kê biên trước, sau đó kê biên phần tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác. Nếu có tranh chấp về tài sản giữa người phải thi hành án với người khác thì Toà án đã ra quyết định thi hành án xác định tài sản của người phải thi hành án theo thủ tục tố tụng dân sự.
2- Khi kê biên tài sản phải có mặt người phải thi hành án hoặc người đã thành niên trong gia đình, đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến. Người được thi hành án được thông báo về thời gian, địa điểm kê biên tài sản và có quyền có mặt khi kê biên tài sản. Nếu người được thi hành án vắng mặt hoặc người phải thi hành án hay người đã thành niên trong gia đình cố tình vắng mặt thì chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên.
3- Chấp hành viên chỉ kê biên tài sản của người phải thi hành án tương ứng với mức đủ để thi hành án và thanh toán các chi phí về thi hành án.
Chấp hành viên phải chấp nhận đề nghị của người phải thi hành án về việc kê biên tài sản nào trước, nếu xét thấy đề nghị đó không trở ngại cho việc thi hành án.
Việc kê biên nhà ở chỉ được tiến hành khi những tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
Điều 24: Tài sản không được kê biên.
Không được kê biên những tài sản sau đây:
1- Lương thực, thuốc men cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình;
2- Công cụ lao động, quần áo, đồ dùng sinh hoạt thông thường cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình;
3- Đồ dùng thờ cúng thông thường.
Điều 25: Định giá tài sản đã kê biên.
1- Tài sản đã kê biện được định giá tại chỗ theo sự thoả thuận giữa người được thi hành án và người phải thi hành án.
2- Nếu các đương sự không thoả thuận được về giá hoặc việc định giá có khó khăn thì sau khi kê biên, chấp hành viên mời Hội đồng định giá gồm đại diện cơ quan tài chính, vật giá và do chấp hành viên chủ trì để định giá sơ bộ tài sản đã kê biên. Người được thi hành án, người phải thi hành án được tham gia ý kiến vào việc định giá, nhưng quyền quyết định giá thuộc Hội đồng định giá.
Điều 26: Giao bảo quản tài sản đã kê biên.
1- Nếu người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản đã kê biên để thi hành án thì chấp hành viên giao tài sản đã kê biên cho người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người đang sử dụng tài sản đó bảo quản.
Đối với tài sản là vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ thì việc giao nhận phải theo đúng thủ tục do ngân hàng Nhà nước, Toà án nhân dân tối cao và Bộ tư pháp quy định.
2- Chấp hành viên phải giải thích cho người được giao bảo quản tài sản đã kê biên về trách nhiệm của họ trong việc bảo quản tài sản.
3- Người được giao bảo quản tài sản được hưởng thù lao và được trả mọi chi phí cần thiết về bảo quản tài sản, trừ trường hợp họ là người phải thi hành án hoặc là người đang sử dụng tài sản.
Điều 27: Biên bản kê biên, giao bảo quản tài sản.
Chấp hành viên lập biên bản kê biên, giao bảo quản tài sản. Trong biên bản phải ghi ngày, giờ kê biên, họ và tên chấp hành viên, người được thi hành án, người phải thi hành án và người chứng kiến, mô tả tình trạng từng tài sản và những yêu cầu của đương sự hoặc ý kiến của người chứng kiến việc kê biên.
Chấp hành viên, đương sự, người chứng kiến và người được giao bảo quản tài sản ký tên vào biên bản. Trong trường hợp có người từ chối ký thì việc đó phải ghi vào biên bản và ghi rõ lý do.
Biên bản được giao cho người được thi hành án, người phải thi hành án và người được giao bảo quản tài sản.
Điều 28: Bán đầu giá tài sản đã kê biên.
1- Tài sản đã kê biên để thi hành án được bán đấu giá. Việc định giá được tiến hành theo thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 25 của Pháp lệnh này.
Danh mục tài sản và thời gian bán đấu giá phải được niêm yết công khai tại trụ sở Toà án và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có tài sản và thông báo cho đương sự, chậm nhất là bảy ngày trước ngày bán đấu giá.
2- Tài sản đã kê biên được bán cho người trả giá cao nhất. Nếu không có ai trả giá cao hơn giá đã định thì tài sản được bán cho người mua theo giá mà Hội đồng định giá đã định.
Tài sản không bán được thì được định giá lại để tiếp tục bán đấu giá.
3- Đối với tài sản không bán được, chấp hành viên yêu cầu người được thi hành án nhận; nếu người được thi hành án không nhận thì chấp hành viên trả tài sản cho người phải thi hành án và quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khác.
Điều 29: Xử lý tài sản đã tịch thu.
Tài sản đã tịch thu là vũ khí, chất nổ, chất phóng xạ hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá được giao cho cơ quan có chức năng quản lý loại tài sản đó theo quy định của pháp luật.
Đối với tài sản khác sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ của người bị tịch thu tài sản, chấp hành viên giao cho cơ quan tài chính xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 30: Bán đến giá nhà.
Người muốn mua nhà phải nộp đơn và nộp trước 1% trị giá nhà tại Toà án. Số tiền này được hoàn lại ngay, nếu họ không mua được nhà.
Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày bán đấu giá, người mua được nhà phải trả đủ tiền tại Toà án. Nếu họ không trả đủ tiền trong thời hạn đó thì số tiền nộp trước không được trả lại và được nộp vào ngân sách Nhà nước.
Điều 31: Thứ tự thanh toán tiền bán tài sản.
Số tiền bán tài sản, sau khi trừ các chi phí về thi hành án, được thanh toán cho người được thi hành án theo thứ tự sau đây:
1- Tiền cấp dưỡng;
2- Tiền bồi thường thiện hại về tính mạng, sức khoẻ;
3- Tiền công lao động;
4- Các khoản phải trả Nhà nước;
5- Các khoản phải trả khác.
Số tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án.
Điều 32: Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
1- Thu nhập của người phải thi hành án bao gồm: Tiền lương, trợ cấp hưu trí hoặc mất sức, thu nhập của xã viên hợp tác xã và các thu nhập hợp pháp khác.
2- Việc trừ vào thu nhập được áp dụng khi thi hành án về cấp dưỡng hoặc khi đã kê biên tài sản khác của người phải thi hành án, nhưng tài sản đó không đủ để thi hành án.
3- Mức cao nhất được trừ vào lương, trợ cấp hưu trí hoặc trợ cấp mất sức là 50%. Đối với những khoản thu nhập khác, thì mức trừ căn cứ vào thu nhập thực tế, nhưng phải bảo đảm điều kiện sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án.
Thực hiện quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
Điều 33: Thực hiện quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
1- quyết định của chấp hành viên về trừ vào thu nhập được gửi cho người được thi hành án, người phải thi hành án, thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người phải thi hành án làm việc hoặc nhận thu nhập.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị nói trên có nghĩa vụ chuyển cho người được thi hành án số tiền được trừ vào thu nhập của người phải thi hành án và báo cho chấp hành viên đã ra quyết định đó biết.
2- Khi người phải thi hành án chuyển đến ở nơi khác thì nơi trả thu nhập cho người đó phải chuyển quyết định của chấp hành viên đến nơi mới và báo cho chấp hành viên đã ra quyết định biết. Nơi trả thu nhập mới của người phải thi hành án có nghĩa vụ thi hành quyết định về việc trừ vào thu nhập của người đó.
Trừ vào tài sản của người phải thi hành án đang do người khác giữ.
Điều 34: Trừ vào tài sản của người phải thi hành án đang do người khác giữ.
1- Đối với tài sản của người phải thi hành án đang gửi ở ngân hàng, chấp hành viên yêu cầu ngân hàng khấu trừ và chuyển cho người được thi hành án số tiền hoặc tài sản mà người phải thi hành án phải trả cho người đó.
2- Đối với tài sản của người phải thi hành án đang cho người khác vay, mượn, thuê hoặc gửi giữ, gửi sửa chữa, chấp hành viên yêu cầu người vay, mượn, thuê hoặc giữ chuyển cho người được thi hành án số tài sản mà người phải thi hành án phải trả cho người đó hoặc kê biên và bán tài sản đó để thi hành án theo quy định tại Chương IV của Pháp lệnh này.
3- Nếu có tranh chấp về tài sản quy định tại khoản 2 Điều này thì Toà án đã ra quyết định thi hành án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Điều 35: Cưỡng chế giao đồ vật.
Trong trường hợp người phải thi hành án bị cưỡng chế giao đồ vật cho người được thi hành án thì chấp hành viên giao đồ vật đó cho người được thi hành án.
Điều 36
Cưỡng chế trả nhà.
Trong trường hợp cưỡng chế trả nhà cho người được thi hành án thì chấp hành viên cho chuyển đồ đạc của người phải thi hành án ra khỏi nhà và giao nhà cho người được thi hành án.
Điều 37: Cưỡng chế chấm dứt hành vi trái pháp luật.
Khi người phải thi hành án không tự nguyện chấm dứt hành vi trái pháp luật thì chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế chấm dứt hành vi đó.
Chương 5:
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT CỦA CHẤP HÀNH VIÊN VÀ KHÁNG CÁO QUYẾT ĐỊNH CỦA CHÁNH ÁN