Điều 41.-
1. Sau khi được Chính phủ, Uỷ ban nhân dân giao kế hoạch ngân sách, các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương có trách nhiệm phân bổ dự toán ngân sách được giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách, bảo đảm đúng với dự toán ngân sách được giao cả về tổng mức và chi tiết.
2. Kết quả phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách phải gửi cơ quan tài chính cùng cấp và kho bạc nơi giao dịch; cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm tra nếu có vấn đề không phù hợp với nội dung dự toán do cơ quan có thẩm quyền giao thì yêu cầu điều chỉnh lại.
3. Việc phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách phải kết thúc trước 31 tháng 12 năm trước.
Điều 42.-
1. Trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, cơ quan tài chính được phép tạm cấp kinh phí cho các nhiệm vụ chi sau:
Chi lương và các khoản có tính chất tiền lương;
Chi nghiệp vụ phí và công vụ phí;
Một số khoản chi cần thiết khác để bảo đảm hoạt động của bộ máy, trừ các khoản mua sắm trang thiết bị, sửa chữa.
Chi cho các công trình xây dựng cơ bản chuyển tiếp thuộc nguồn ngân sách nhà nước đã xác định khối lượng đủ điều kiện thanh toán;
Chi cho dự án chuyển tiếp thuộc các chương trình quốc gia;
Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
2. Mức tạm cấp hàng tháng tối đa không quá mức chi bình quân 1 tháng của 1 năm trước.
Điều 43.-
1. Các tổ chức, cá nhân, kể cả các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nghĩa vụ nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
2. Khi các tổ chức, cá nhân chậm nộp các khoản phải nộp ngân sách nhà nước mà không có lý do chính đáng, căn cứ vào yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nêu tại khoản 3 Điều này, các ngân hàng và kho bạc phải trích từ tài khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân đó nộp vào ngân sách nhà nước hoặc áp dụng các biện pháp tài chính khác để thu cho ngân sách.
3. Các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ngân hàng, kho bạc trích tài khoản của tổ chức, cá nhân để nộp ngân sách nhà nước là:
- Cơ quan thuế, cơ quan hải quan đối với việc chậm nộp các khoản thuế và phí;
- Cơ quan tài chính đối với việc chậm nộp các khoản thu khác.
4. Trường hợp các tổ chức, cá nhân cố tình không nộp thì ngoài việc trích tài khoản để nộp ngân sách còn bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Toàn bộ các khoản thu của ngân sách nhà nước phải nộp trực tiếp vào Kho bạc nhà nước. Đối với một số khoản thu phí, lệ phí, thu thuế hộ kinh doanh không cố định, thu ngân sách ở địa bàn xã... do lý do khách quan mà việc nộp trực tiếp và Kho bạc nhà nước có khó khăn thì cơ quan thu có thể thu trực ti
Điều 44.- Toàn bộ các khoản thu của ngân sách nhà nước phải nộp trực tiếp vào Kho bạc nhà nước. Đối với một số khoản thu phí, lệ phí, thu thuế hộ kinh doanh không cố định, thu ngân sách ở địa bàn xã... do lý do khách quan mà việc nộp trực tiếp và Kho bạc nhà nước có khó khăn thì cơ quan thu có thể thu trực tiếp, song phải nộp vào Kho bạc nhà nước theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Điều 45.-
1. Chỉ các cơ quan dưới đây được tổ chức thu ngân sách nhà nước:
Cơ quan Thuế nhà nước;
Cơ quan Hải quan;
Cơ quan tài chính và các cơ quan khác được Chính phủ cho phép, hoặc được Bộ Tài chính uỷ quyền.
2. Cơ quan thu có nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Điều 59 của Luật ngân sách nhà nước.
3. Cơ quan thu phải sử dụng chứng từ do Bộ Tài chính phát hành để thực hiện thu, nộp ngân sách.
Điều 46.-
1. Căn cứ vào mục đích vay, việc sử dụng vốn vay được thực hiện theo nguyên tắc:
Đối với các khoản vay cho các dự án đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội thuộc đối tượng ngân sách nhà nước cấp phát, Bộ Tài chính thực hiện cấp phát vốn theo chế độ quy định.
Đối với các khoản vay cho các dự án thuộc đối tượng tín dụng nhà nước, Bộ Tài chính thực hiện cho vay lại.
2. Bộ Tài chính quy định cụ thể việc quản lý thu và cấp phát vốn vay nước ngoài theo nguyên tắc trên và phù hợp với từng hiệp định đã ký kết với nước ngoài.
Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền hoặc bằng hiện vật của các Chính phủ, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nước phải được hạch toán đầy đủ vào ngân sách nhà nước theo quy định sau đây:
Điều 47.- Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền hoặc bằng hiện vật của các Chính phủ, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nước phải được hạch toán đầy đủ vào ngân sách nhà nước theo quy định sau đây:
1. Đối với các khoản viện trợ đã xác định được đơn vị sử dụng thì cơ quan tài chính làm thủ tục ghi thu, ghi chi qua ngân sách nhà nước.
2. Đối với các khoản viện trợ chưa xác định đơn vị sử dụng, cơ quan tài chính có trách nhiệm quản lý và ghi thu ngân sách, đồng thời xác định phương án sử dụng theo đúng các cam kết, mục tiêu đã thoả thuận với phía viện trợ, trình cấp có thẩm quyền quyết định, sau đó phân phối cho các đơn vị sử dụng và làm thủ tục cấp phát ngân sách nhà nước.
Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
Điều 48.- Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Đã có trong dự toán ngân sách nhà nước được duyệt, trừ các trường hợp sau:
a/ Dự toán ngân sách và phân bổ dự toán ngân sách chưa được cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc phải điều chỉnh phân bổ dự toán ngân sách như quy định tại các Điều 56 và 62 của Luật ngân sách nhà nước;
b/ Chi từ nguồn dự phòng ngân sách theo quyết định của cấp có thẩm quyền;
2. Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;
3. Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền chuẩn chi;
4. Ngoài các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3 của Điều này, trường hợp sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải đấu thấu thì còn phải tổ chức đấu thầu theo quy định của Chính phủ.
Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý, cấp phát chi ngân sách nhà nước được quy định cụ thể như sau:
Điều 49.- Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý, cấp phát chi ngân sách nhà nước được quy định cụ thể như sau:
1. Cơ quan tài chính:
a) Kiểm tra việc phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng theo quy định tại Điều 41 của Nghị định này;
b) Thông báo hạn mức chi hàng quý phù hợp với nội dung và tiến độ thực hiện nhiệm vụ chi trong phạm vi dự toán năm được duyệt;
c) Kiểm tra mục đích, tính chát của từng khoản chi, bảo đảm đủ các điều kiện chi được quy định trước khi ra lệnh xuất quỹ ngân sách trong các trường hợp cơ quan tài chính cấp phát trực tiếp;
d) Kiểm tra việc sử dụng ngân sách ở các cơ quan và đơn vị sử dụng ngân sách.
2. Cơ quan Kho bạc nhà nước:
Kiểm tra lệnh chuẩn chi; nếu lệnh chuẩn chi phù hợp với hạn mức chi do cơ quan tài chính thông báo và bảo đảm các điều kiện chi quy định tại Điều 48 Nghị định này thì thanh toán cho người nhận tiền.
3. Cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương:
a/ Căn cứ vào hạn mức chi hàng quý được cơ quan tài chính thông báo, phân phối mức chi hàng quý cho các đơn vị trực thuộc theo uỷ quyền của cơ quan tài chính; đồng gửi cho cơ quan tài chính đồng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch;
b/ Hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực do cơ quan quản lý và của các đơn vị trực thuộc.
4. Đơn vị sử dụng ngân sách:
a/ Chuẩn chi đúng chế độ, tiêu chuẩn và mức chi được phân phối do cơ quan có thẩm quyền quy định;
b/ Quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả.
Điều 50.-
1. Cấp phát các khoản chi thường xuyên của các đơn vị hành chính, sự nghiệp:
a/ Căn cứ vào dự toán ngân sách được giao, các đơn vị sử dụng ngân sách lập dự toán chi hàng quý gửi cơ quan quản lý cấp trên; cơ quan quản lý cấp trên tổng hợp gửi cơ quan tài chính cùng cấp.
b/ Cơ quan tài chính thẩm tra dự toán chi của từng đơn vị sử dụng ngân sách và căn cứ vào khả năng ngân sách để bố trí mức chi cho các đơn vị sử dụng ngân sách hoặc bố trí mức chi cho cơ quan quản lý cấp trên của đơn vị và uỷ quyền cho cơ quan quản lý cấp trên phân phối cho từng đơn vị sử dụng ngân sách, thông báo cho đơn vị sử dụng ngân sách và kho bạc nơi giao dịch để thực hiện.
c/ Mức chi hàng quý được phân phối là hạn mức cao nhất mà đơn vị sử dụng ngân sách được chi trong quý.
d/ Căn cứ vào hạn mức chi được phân phối, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách ra lệnh chuẩn chi kèm theo hồ sơ thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch.
đ/ Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch căn cứ vào thông báo hạn mức chi được cơ quan tài chính hoặc cơ quan quản lý cấp trên phân phối cho đơn vị, kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ thanh toán, các điều kiện chi và lệnh chuẩn chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách, thực hiện việc cấp phát, thanh toán.
e/ Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện từng bước nguyên tắc thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho người hưởng lương, người cung cấp hoặc người nhận thầu.
g/ Đối với các khoản chi nhỏ và các khoản chi chưa có điều kiện thực hiện việc thanh toán trực tiếp, Kho bạc Nhà nước cấp tạm ứng cho đơn vị sử dụng ngân sách để chủ động chi theo dự toán được duyệt, sau đó thanh toán với Kho bạc Nhà nước để chuyển từ cấp tạm ứng sang thực chi.
Bộ Tài chính quy định cụ thể hạn mức được tạm ứng phù hựp với loại hình và quy mô hoạt động của các đơn vị sử dụng ngân sách.
h/ Đối với các khoản chi của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, căn cứ vào hạn mức chi hàng quý do cơ quan tài chính thông báo, đơn vị được rút tiền từ quỹ ngân sách do Bộ Tài chính uỷ quyền cho đơn vị quản lý để chi tiêu theo dự toán được duyệt và theo chế độ quy định.
2. Cấp phát và cho vay vốn đầu tư xây dựng:
a/ Căn cứ vào kế hoạch vốn đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách được giao, chủ đầu tư lập kế hoạch thanh toán hàng quý gửi cơ quan cấp phát vốn đầu tư (Tổng cục Đầu tư phát triển, Cục Đầu tư phát triển các tỉnh hoặc chi cục đầu tư phát triển các quận, huyện). Cơ quan cấp phát vốn đầu tư xem xét, tổng hợp kế hoạch quý gửi cơ quan tài chính.
b/ Cơ quan tài chính thẩm tra kế hoạch chi của cơ quan cấp phát vốn đầu tư và căn cứ vào khả năng ngân sách để bố trí mức chi hàng quý cho cơ quan cấp phát vốn đầu tư, trong đó có chi tiết mức chi cho những công trình quan trọng;
c/ Căn cứ mức chi do cơ quan tài chính thông báo, cơ quan cấp phát vốn đầu tư phân bổ hạn mức chi hàng quý cho từng chủ đầu tư;
d/ Căn cứ hạn mức chi được phân bổ và khối lượng XDCB đủ điều kiện thanh toán, chủ đầu tư gửi hồ sơ thanh toán đến cơ quan cấp phát vốn đầu tư;
đ/ Cơ quan cấp phát vốn đầu tư thẩm định hồ sơ cấp phát thanh toán và yêu cầu Kho bạc Nhà nước thanh toán cho chủ đầu tư hoặc thay chủ đầu tư thanh toán cho người nhận thầu;
e/ Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định cụ thể phương pháp và trình tự cấp phát, cho vay và thanh toán vốn đầu tư xây dưng cơ bản thuộc nguồn ngân sách nhà nước phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước, Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng và các điều kiện của từng khoản cấp phát, vay.
3. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì cơ quan tài chính cấp trên phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cơ quan tài chính cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. Cơ quan nhận kinh phí uỷ quyền có trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí theo đúng chế độ cấp phát vốn ngân sách nhà nước nhưng phải hạch toán và báo cáo riêng cho cơ quan nhà nước uỷ quyền. Đến 31 tháng 12, kinh phí uỷ quyền chưa sử dụng hết phải trả lại ngân sách cấp trên.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định phương thức cấp phát các khoản chi khác của ngân sách nhà nước.
Điều 51.-
1. Chính phủ điều chỉnh dự toán ngân sách đã giao cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan Trung ương khác; điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách Trung ương và ngân sách cấp tỉnh, mức bổ sung từ ngân sách Trung ương cho ngân sách cấp tỉnh và báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội trong các trường hợp sau:
a/ Quốc hội điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước;
b/ Có yêu cầu cấp bách về quốc phòng, an ninh;
c/ Có biến động lớn về thu, chi ngân sách so với mức đã phân bổ.
2. Uỷ ban nhân dân các cấp theo thẩm quyền, điều chỉnh dự toán ngân sách đã giao cho các cơ quan trực thuộc; điều chỉnh tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương, số bổ sung cho ngân sách cấp dưới và báo cáo Hội đồng nhân dân trong các trường hợp sau:
a/ Hội đồng nhân dân điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương;
b/ Có biến động lớn về thu, chi ngân sách so với mức đã phân bổ.
3. Cơ quan nhà nước điều chỉnh dự toán ngân sách của các đơn vị trực thuộc, sau khi thoả thuận với cơ quan tài chính cùng cấp, trong các trường hợp sau:
a/ Chính phủ, Uỷ ban nhân dân quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách của cơ quan đó;
b/ Cần phân bổ lại ngân sách cho các đơn vị.
4. Đối với các đơn vị sử dụng ngân sách khi cần thiết phải sắp xếp lại các khoản chi để đáp ứng các yêu cầu cần thiết thì thủ trưởng đơn vị lập phương án điều chỉnh báo cáo cơ quan quản lý cấp trên, báo cáo cơ quan tài chính cùng cấp để giải quyết.
Trong quá trình chấp hành ngân sách, nếu có sự thay đổi về thu, chi, Thủ tướng chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện như sau:
Điều 52.- Trong quá trình chấp hành ngân sách, nếu có sự thay đổi về thu, chi, Thủ tướng chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện như sau:
1. Nếu tăng thu hoặc tiết kiệm chi so với dự toán được duyệt thì số tăng thu hoặc tiết kiệm chi được dùng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ hoặc để bổ sung quỹ dự trữ tài chính, hoặc tăng chi một số khoản cần thiết khác nhưng không được tăng chi về quỹ tiền lương, trừ trường hợp đặc biệt được cấp có thẩm quyền cho phép.
2. Nếu giảm thu so với dự toán được duyệt thì phải sắp xếp lại để giảm một số khoản chi tương ứng.
3. Nếu có nhu cầu chi đột xuất ngoài dự toán nhưng không thể trì hoán được mà nguồn dự phòng không đủ đáp ứng thì phải sắp xếp lại các khoản chi, để có nguồn đáp ứng nhu cầu chi đột xuất đó.
4. Khi thực hiện việc tăng, giảm thu, chi, Thủ tướng Chính phủ (đối với ngân sách Trung ương), Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (đối với ngân sách địa phương) phải báo cáo Uỷ ban thường Vụ Quốc hội, Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân cùng cấp vào kỳ họp gần nhất.
Điều 53.-
1. Tất cả các đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước trong quá trình cấp phát, thanh toán, sử dụng kinh phí.
2. Kho bạc Nhà nước là cơ quan quản lý quỹ ngân sách nhà nước (quỹ ngân sách Trung ương và quỹ ngân sách các cấp chính quyền địa phương), thống nhất quản lý, tổ chức thanh toán, điều hoà vốn và tiền mặt thuộc quỹ ngân sách nhà nước nhằm tập trung nhanh, đầy đủ các khoản thu; đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán, chi trả của ngân sách nhà nước.
3. Kho bạc Nhà nước mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại quốc doanh theo quy định để tập trung các khoản thu, cấp phát, thanh toán các khoản chi của ngân sách nhà nước. Ngân hàng nơi Kho bạc Nhà nước mở tài khoản có trách nhiệm bảo đảm thanh toán, điều hoà tiền mặt, ngoại tệ cho Kho bạc Nhà nước đầy đủ, kịp thời theo nhiệm vụ thu, chi của ngân sách Nhà nước. Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại ngân hàng được hưởng lãi suất như các đơn vị, tổ chức kinh tế; các khoản thanh toán của Kho bạc Nhà nước qua ngân hàng phải trả phí thanh toán.
Kết thúc năm ngân sách, đối với các tỉnh có số tăng thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt so với nhiệm vụ được giao, Chính phủ quyết định trích một phần theo tỷ lệ phần trăm (%) của số tăng thu đó thưởng cho ngân sách tỉnh để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng v
Điều 54.- Kết thúc năm ngân sách, đối với các tỉnh có số tăng thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt so với nhiệm vụ được giao, Chính phủ quyết định trích một phần theo tỷ lệ phần trăm (%) của số tăng thu đó thưởng cho ngân sách tỉnh để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng và báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Việc sử dụng tiền thưởng cụ thể cho từng công trình và xét thưởng cho ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã do Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định, báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh.
Điều 55.-
1. Dự phòng ngân sách được sử dụng để khắc phục hậu quả thiên tai, địch hoạ và trong trường hợp phát sinh nhu cầu chi cấp thiết chưa được bố trí hoặc bố trí chưa đủ trong dự toán ngân sách được giao (kể cả nhu cầu tăng chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới), mà sau khi sắp xếp lại các khoản chi, cơ quan chủ quản, đơn vị sử dụng ngân sách, chính quyền cấp dưới vẫn không xử lý được.
2. Thẩm quyền xử lý như sau:
a/ Đối với dự phòng ngân sách trung ương, Bộ trưởng Bộ Tài chính được quyết định mức chi từ 1.000 triệu đồng trở xuống sau đó tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trên mức này, Bộ trưởng Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
b/ Đối với dự phòng ngân sách địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quyết định hoặc uỷ quyền cho cơ quan tài chính quyết định.
3. Việc sử dụng dự phòng ngân sách phải tuân thủ các điều kiện về chi ngân sách và theo qui trình cấp phát quy định tại các Điều 48, 49, 50 của Nghị định này.
Điều 56.- Quỹ dự trữ tài chính:
1. Nguồn hình thành quỹ dự trữ tài chính:
a/ Quỹ dự trữ tài chính của Trung ương được hình thành từ các nguồn:
Một phần số tăng thu ngân sách Trung ương so với dự toán.
Mức cụ thể do Thủ tướng Chính phủ quyết định;
Năm mươi phần trăm (50%) kết dư ngân sách Trung ương;
Bố trí trong dự toán chi hàng năm của ngân sách Trung ương.
Mức cụ thể do Chính phủ trình Quốc hội quyết định.
b/ Quỹ dự trữ tài chính của tỉnh, được hình thành từ các nguồn:
Một phần số tăng thu so với sự toán của ngân sách cấp tỉnh.
Mức cụ thể do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định;
Năm mươi phần trăm (50%) kết dư ngân sách cấp tỉnh;
Bố trí trong dự toán chi hàng năm của ngân sách cấp tỉnh. Mức cụ thể do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân quyết định.
2. Quản lý và sử dụng quỹ dự trữ tài chính:
a/ Quỹ dự trữ tài chính được quản lý tại Kho bạc Nhà nước.
b/ Quỹ dự trữ tài chính của Trung ương do Bộ trưởng Bộ Tài chính là chủ tài khoản; quỹ dự trữ tài chính của tỉnh do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh là chủ tài khoản.
c/ Việc trích lập quỹ dự trữ tài chính được thực hiện dần từng năm; mức khống chế tối đa là 25% dự toán chi ngân sách hàng năm của cấp tương ứng.
d/ Quỹ dự trữ tài chính được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu chi khi nguồn thu chưa tập trung kịp và phải hoàn trả trong năm ngân sách, trừ các trường hợp đặc biệt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều này. đ/ Ngân sách cấp tỉnh được vay quỹ dự trữ tài chính của Trung ương nếu đã sử dụng hết quỹ dự trữ của tỉnh. Ngân sách cấp huyện và cấp xã được vay quỹ dự trữ tài chính của tỉnh.
e/ Trong trường hợp thu ngân sách hoặc vay để bù đắp bội chi không đạt mức dự toán đã được duyệt hoặc xảy ra thiên tai, địch hoạ lớn mà sau khi đã sắp xếp lại ngân sách và sử dụng dự phòng ngân sách vẫn không đủ nguồn để đáp ứng nhiệm vụ chi:
Thủ tướng Chính phủ quyết định sử dụng quỹ dự trữ tài chính của Trung ương để xử lý cân đối ngân sách.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định sử dụng quỹ dự trữ tài chính của tỉnh để xử lý cân đối ngân sách, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp và Bộ Tài chính.
Cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm cấp phát, thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản chi theo đúng tiến độ thực hiện, trong phạm vi dự toán ngân sách năm được duyệt và hạn mức chi hàng quý đã thông báo; có quyền từ chối các khoản chi không đủ điều kiện quy định tại Điều 48 của Nghị địn
Điều 57.- Cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm cấp phát, thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản chi theo đúng tiến độ thực hiện, trong phạm vi dự toán ngân sách năm được duyệt và hạn mức chi hàng quý đã thông báo; có quyền từ chối các khoản chi không đủ điều kiện quy định tại Điều 48 của Nghị định này nhưng phải thông báo kịp thời cho đơn vị biết và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Đơn vị bị từ chối chi nếu không nhất trí với quyết định của cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước, có quyền khiếu nại với cơ quan tài chính và kho bạc Nhà nước cấp trên.
Trường hợp nguồn thu và các khoản vay trong kế hoạch của ngân sách Trung ương không tập trung kịp thời theo tiến độ kế hoạch, sau khi đã sử dụng quỹ dự trữ tài chính vẫn không đáp ứng nhu cầu chi, Bộ Tài chính được tạm ứng vốn của Ngân hàng Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phải ho
Điều 58.- Trường hợp nguồn thu và các khoản vay trong kế hoạch của ngân sách Trung ương không tập trung kịp thời theo tiến độ kế hoạch, sau khi đã sử dụng quỹ dự trữ tài chính vẫn không đáp ứng nhu cầu chi, Bộ Tài chính được tạm ứng vốn của Ngân hàng Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phải hoàn trả trong năm.
Chương 5:
KẾ TOÁN VÀ QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC