Chế độ báo cáo
Điều 7
Điều 7. Chế độ báo cáo 1. Báo cáo định kỳ: Định kỳ sáu (06) tháng và hàng năm, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Người đại diện có trách nhiệm báo cáo Chủ sở hữu và Bộ Tài chính việc sử dụng khoản vay nước ngoài, tình hình trả nợ khoản vay nước ngoài theo Phụ lục ban hành kèm theo Quy chế này và lập Báo cáo đánh giá tình hình tài chính theo các nội dung quy định tại Điều 6 Quy chế ban hành kèm theo Nghị định số 61/2013/NĐ-CP và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 158/2013/TT-BTC ngày 13/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Thời điểm nộp báo cáo cùng với thời điểm nộp báo cáo tài chính giữa niên độ hoặc năm theo quy định của chế độ kế toán. 2. Báo cáo đột xuất: a) Trường hợp phát sinh các nội dung bất thường có khả năng ảnh hưởng đến việc thực hiện vay, trả khoản vay nước ngoài, Bộ Tài chính, Chủ sở hữu có thể yêu cầu Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Công ty, Người đại diện báo cáo về tình hình thực hiện dự án, việc vay, trả nợ, tình hình sản xuất kinh doanh và việc chấp hành các quy định khác của pháp luật. b) Trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn trong công tác sử dụng vốn hoặc gặp khó khăn trong việc trả nợ nước ngoài, doanh nghiệp có trách nhiệm báo cáo và đề xuất biện pháp tháo gỡ gửi Chủ sở hữu chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xem xét, giải quyết theo thẩm quyền. Trường hợp vượt thẩm quyền thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. 3. Các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo theo quy định tại Điều này.