Đã lưuĐăng ký
Hết hiệu lực

Thông tư Quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Chương II — CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 3–Điều 5 · 3 điều

Xem văn bản gốc ↗

Đề nghị của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Điều 3

Tab mới ↗

Điều 3. Đề nghị của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 1. Hàng năm, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ (sau đây gọi chung là cơ quan) trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình và kiến nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các tổ chức, cá nhân có nội dung liên quan đến phạm vi tham mưu quản lý nhà nước của cơ quan mình đề nghị bằng văn bản về việc xây dựng Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi tắt là Luật, Pháp lệnh); Nghị định của Chính phủ; Thông tư của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch với các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là Thông tư). Văn bản đề nghị được gửi Vụ Pháp chế để tổng hợp báo cáo Bộ trưởng theo thời hạn sau: a) Đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội phải được gửi chậm nhất là ngày 02 tháng 01 của năm đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội; b) Đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh hàng năm trên cơ sở Chương trình của cả nhiệm kỳ Quốc hội phải được gửi chậm nhất 170 ngày, trước ngày 01 tháng 3 của năm trước năm dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; c) Đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh hàng năm chưa có trong Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của cả nhiệm kỳ Quốc hội phải được gửi chậm nhất 170 ngày, trước ngày 01 tháng 3 của năm trước năm dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; d) Đề nghị xây dựng Nghị định hàng năm phải được gửi chậm nhất là ngày 01 tháng 6 của năm trước năm dự kiến trình Chính phủ; đ) Đề nghị xây dựng Thông tư hàng năm phải được gửi chậm nhất là ngày 01 tháng 8 của năm trước năm dự kiến ban hành. 2. Văn bản đề nghị gửi Vụ Pháp chế có những nội dung cơ bản như sau: a) Văn bản đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính của văn bản; dự kiến nguồn lực, điều kiện đảm bảo cho việc soạn thảo văn bản; báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản và dự kiến thời gian trình văn bản; b) Văn bản đề nghị xây dựng Nghị định phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; nội dung chính sách cơ bản của văn bản, báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản và dự kiến thời gian trình văn bản; c) Văn bản đề nghị xây dựng Thông tư phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, căn cứ pháp lý, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nội dung chủ yếu của văn bản; tên cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp và dự kiến thời gian trình văn bản. 3. Đối với đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, các cơ quan thuộc Bộ ngoài việc gửi văn bản đề nghị quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều này phải thực hiện các công việc sau: a) Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan có liên quan về đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định; đăng tải bản thuyết minh về đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định và báo cáo đánh giá tác động sơ bộ trên trang thông tin điện tử của Bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 và điểm a khoản 4 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 05/3/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là Nghị định số 24/2009/NĐ-CP); b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, lập hồ sơ đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định theo quy định tại các điểm a và b khoản 1; các điểm a, b, c và d khoản 2; các điểm a, b, c và d khoản 3 Điều 4 và khoản 1 Điều 15 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP; hoàn thiện hồ sơ trên cơ sở các ý kiến góp ý, gửi hồ sơ đề nghị đến Vụ Pháp chế để tổng hợp. Trường hợp đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh và Nghị định (trừ Nghị định quy định chi tiết theo điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP) có quy định liên quan đến nguồn tài chính và nguồn nhân lực, phải đề xuất Lãnh đạo Bộ gửi hồ sơ đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định đến Bộ Tài chính để lấy ý kiến về tính hợp lý của nguồn tài chính dự kiến và Bộ Nội vụ để lấy ý kiến về tính hợp lý của nguồn nhân lực dự kiến. 4. Đối với đề nghị xây dựng Nghị định quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành Luật hoặc Pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, cơ quan đề nghị phải trình Bộ trưởng để phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp chuẩn bị hồ sơ, xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành Nghị định theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Lập dự thảo đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư trình Bộ trưởng

Điều 4

Tab mới ↗

Điều 4. Lập dự thảo đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư trình Bộ trưởng 1. Lập dự thảo đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định Vụ Pháp chế có trách nhiệm: a) Tổng hợp đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định của các cơ quan thuộc Bộ quy định tại Điều 3 Thông tư này và kiến nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của khoản 3 Điều 1 và khoản 3 Điều 13 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP. b) Lập dự thảo đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, trình Bộ trưởng xem xét, quyết định. Trong quá trình lập dự thảo đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Vụ Pháp chế chủ trì, tổ chức cuộc họp hoặc gửi văn bản lấy ý kiến các cơ quan có liên quan để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định và hồ sơ có liên quan. Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng tổ chức cuộc họp với các cơ quan thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp, Văn phũng Chớnh phủ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ để cho ý kiến về đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định; c) Gửi hồ sơ đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ theo thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 4; khoản 7 Điều 14 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP sau khi Bộ trưởng quyết định đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ. 2. Lập dự thảo Chương trình xây dựng Thông tư của Bộ Vụ Pháp chế có trách nhiệm: a) Tổng hợp đề nghị xây dựng Thông tư của các cơ quan thuộc Bộ và kiến nghị xây dựng Thông tư của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; b) Lập dự thảo Chương trình xây dựng Thông tư. Trong quá trình lập dự thảo Chương trình xây dựng Thông tư, Vụ Pháp chế chủ trì tổ chức cuộc họp hoặc gửi văn bản tham khảo ý kiến các cơ quan có liên quan, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Chương trình xây dựng Thông tư để trình Bộ trưởng xem xét, quyết định. 3. Văn phòng có trách nhiệm thông báo hoặc sao gửi trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt cho các cơ quan chủ trì soạn thảo biết để thực hiện. 4. Vụ Pháp chế căn cứ Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phối hợp với Văn phòng thực hiện theo dõi, đôn đốc tiến độ xây dựng văn bản. 5. Các cơ quan đề nghị xây dựng văn bản có trách nhiệm bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng soạn thảo văn bản theo Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt; báo cáo Bộ trưởng về tiến độ thực hiện.

Đề nghị điều chỉnh Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Điều 5

Tab mới ↗

Điều 5. Đề nghị điều chỉnh Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 1. Các trường hợp đề nghị điều chỉnh: a) Đưa ra khỏi Chương trình những văn bản chưa cần thiết ban hành hoặc không còn cần thiết ban hành do sự thay đổi về điều kiện kinh tế- xã hội; b) Lùi thời điểm trình do chậm tiến độ soạn thảo hoặc chất lượng văn bản không bảo đảm; c) Bổ sung vào Chương trình những văn bản do yêu cầu cấp thiết của việc quản lý hoặc phải sửa đổi phù hợp với các văn bản mới được ban hành để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật hoặc để thực hiện các cam kết quốc tế. 2. Thủ tục điều chỉnh: a) Trong trường hợp quy định tại các điểm a và b khoản 1 Điều này, cơ quan đề nghị điều chỉnh phải có văn bản báo cáo Bộ trưởng (qua Vụ Pháp chế). Đối với Luật, Pháp lệnh, Nghị định, ngoài văn bản báo cáo Bộ trưởng, cơ quan đề nghị còn phải dự thảo Tờ trình của Bộ trưởng, nêu rõ lý do, phương hướng, giải pháp, thời gian thực hiện để Bộ trưởng trình Thủ tướng Chính phủ qua Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ; b) Trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, cơ quan đề nghị điều chỉnh phải thực hiện theo quy trình đề nghị xây dựng văn bản theo quy định tại các Điều 3 và 4 Thông tư này. Chương III SOẠN THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Về toàn văn Thông tư Quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp