Đã lưuĐăng ký
Hết hiệu lực

Thông tư Quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Chương III — SOẠN THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Điều 6–Điều 8 · 3 điều

Xem văn bản gốc ↗

Cơ quan chủ trì soạn thảo

Điều 6

Tab mới ↗

Điều 6. Cơ quan chủ trì soạn thảo 1. Cơ quan thuộc Bộ có đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư trong Chương trình xây dựng pháp luật được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Chương II Thông tư này là cơ quan chủ trì soạn thảo. 2. Trường hợp soạn thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tắt là Quyết định) hoặc soạn thảo văn bản theo kiến nghị của tổ chức, cá nhân, Bộ trưởng quyết định giao cho cơ quan thuộc Bộ phụ trách lĩnh vực chuyên ngành có liên quan là cơ quan chủ trì soạn thảo.

Trình tự soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định

Điều 7

Tab mới ↗

Điều 7. Trình tự soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định 1. Đối với những văn bản do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch được giao chủ trì soạn thảo, phải thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập theo quy định tại các Điều 20 và 25 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP. Tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo thực hiện theo quy định tại các Điều 21, 22, 23 và 24 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP. 2. Cơ quan chủ trì soạn thảo là đầu mối giúp Bộ trưởng thực hiện các nhiệm vụ sau: a) Bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập; b) Phối hợp và tạo điều kiện cho Ban soạn thảo tổng kết tình hình thi hành pháp luật; đánh giá tác động khi soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung dự thảo; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến dự thảo; chuẩn bị đề cương, biên soạn, tổ chức lấy ý kiến và chỉnh lý dự thảo trước khi gửi thẩm định. Khi soạn thảo văn bản có nội dung quy định về thủ tục hành chính, ngoài việc thực hiện các quy định trên, cơ quan chủ trì soạn thảo còn phải đánh giá tác động đối với thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 8/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị định số 63/2010/NĐ-CP); c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết thi hành. 3. Tổ chức lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo: a) Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, bằng các hình thức: lấy ý kiến trực tiếp; gửi dự thảo để góp ý; tổ chức hội thảo; thông qua trang thông tin điện tử của Chính phủ, của Bộ hoặc các phương tiện thông tin đại chúng; b) Cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi dự thảo văn bản đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để lấy ý kiến, trong đó phải lấy ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ nếu có quy định liên quan đến nguồn tài chính và nguồn nhân lực. Trường hợp văn bản có quy định về thủ tục hành chính, trước khi gửi thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng Chính phủ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP. Hồ sơ gửi xin ý kiến thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP. Văn bản lấy ý kiến phải quy định thời hạn trả lời chậm nhất là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ văn bản và hồ sơ đề nghị góp ý kiến; c) Việc đăng tải nội dung dự thảo trên trang thông tin điện tử của Bộ để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân thực hiện như sau: - Cơ quan chủ trì soạn thảo có văn bản đề nghị đăng tải thông tin gửi về Trung tâm Công nghệ thông tin của Bộ; - Gửi kèm theo văn bản đề nghị 01 bản ghi điện tử nội dung dự thảo lần thứ 2 của văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP (dự thảo có chữ ký xác nhận của Thủ trưởng và dấu treo của cơ quan chủ trì soạn thảo đối với cơ quan có con dấu riêng); - Gửi 01 bản mềm nội dung dự thảo lần thứ 2 của văn bản qua hòm thư điện tử của Trung tâm Công nghệ thông tin; - Trung tâm Công nghệ thông tin có trách nhiệm đăng toàn bộ nội dung dự thảo trong vòng 01 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ yêu cầu tại điểm này; d) Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trường hợp không tiếp thu ý kiến góp ý, cơ quan chủ trì soạn thảo phải giải trình cụ thể bằng văn bản.

Trình tự soạn thảo Thông tư

Điều 8

Tab mới ↗

Điều 8. Trình tự soạn thảo Thông tư 1. Tùy thuộc nội dung của Thông tư, Bộ trưởng có thể quyết định thành lập Tổ biên tập gồm đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo, Vụ Pháp chế, Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng (nếu dự thảo văn bản có nội dung quy định về thủ tục hành chính), các cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân khác của Bộ, ngành có liên quan (nếu là Thông tư liên tịch). Thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo làm Tổ trưởng Tổ biên tập, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về nội dung, chất lượng, tiến độ soạn thảo Thông tư. 2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức tổng kết tình hình thực hiện pháp luật; khảo sát đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; nghiên cứu thông tin tư liệu có liên quan đến nội dung dự thảo; chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; gửi đăng toàn bộ nội dung dự thảo (lần thứ 2) trên trang thông tin điện tử của Bộ theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 7 Thông tư này trước thời gian dự kiến trình Bộ trưởng ban hành ít nhất là 60 ngày để lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức, cá nhân; chuẩn bị tờ trình và các tài liệu có liên quan đến dự thảo để trình. Trường hợp soạn thảo Thông tư có nội dung quy định về thủ tục hành chính, ngoài việc thực hiện quy định trên đây còn phải đánh giá tác động của thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP. 3. Tổ chức lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo: a) Tuỳ theo tính chất, nội dung của văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức họp lấy ý kiến trực tiếp hoặc gửi dự thảo lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân là đối tượng điều chỉnh của văn bản và các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng tham mưu quản lý nhà nước có liên quan. Nếu đối tượng cần lấy ý kiến là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thì thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo xin ý kiến Thứ trưởng phụ trách khối quyết định; b) Trường hợp Thông tư có nội dung quy định về thủ tục hành chính, trước khi gửi Vụ Pháp chế thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện lấy ý kiến như sau: - Đối với Thông tư liên tịch, lấy ý kiến của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng Chính phủ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP. Hồ sơ gửi lấy ý kiến thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP; - Đối với Thông tư, lấy ý kiến của Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP. Hồ sơ gửi xin ý kiến thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP; c) Văn bản lấy ý kiến của các cơ quan, đơn vị và Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng phải quy định thời hạn trả lời chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ văn bản và hồ sơ đề nghị góp ý kiến. Trường hợp lấy ý kiến của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng Chính phủ quy định tại điểm b khoản này, văn bản lấy ý kiến phải quy định thời hạn trả lời chậm nhất là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ văn bản và hồ sơ đề nghị góp ý kiến. 4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trường hợp không tiếp thu ý kiến góp ý, cơ quan chủ trì soạn thảo phải giải trình cụ thể bằng văn bản. Chương IV THẨM ĐỊNH DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Về toàn văn Thông tư Quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Nội dung điều luật trên trang này được đăng lại nguyên văn từ dữ liệu công khai của cơ quan nhà nước; xem nguồn ở dòng ghi nguồn bên dưới.

Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp.

Tra cứu tiếp