Thông tư Quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Chương V — BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 12. Trình Bộ trưởng ký ban hành Thông tư
1. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm trình Bộ trưởng ký ban hành Thông tư.
2. Hồ sơ dự thảo Thông tư trình Bộ trưởng ký ban hành bao gồm:
a) Phiếu trình giải quyết công việc của cơ quan chủ trì soạn thảo trình Bộ trưởng theo mẫu quy định của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;
b) Tờ trình Bộ trưởng về dự thảo Thông tư;
c) Dự thảo Thông tư đã được chỉnh lý sau khi có ý kiến thẩm định của Vụ Pháp chế;
d) Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị, cá nhân; bản sao các văn bản góp ý của các cơ quan, đơn vị, cá nhân;
đ) Văn bản thẩm định của Vụ Pháp chế;
e) Báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến thẩm định;
g) Tài liệu khác có liên quan (nếu có).
Gửi Thông tư để đăng Công báo, trang thông tin điện tử và để kiểm tra
Điều 13. Gửi Thông tư để đăng Công báo, trang thông tin điện tử và để kiểm tra
1. Thông tư của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành hoặc liên tịch ban hành phải được gửi đăng Công báo và trang thông tin điện tử của Bộ. Nếu không đăng Công báo thì Thông tư không có hiệu lực thi hành (trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước).
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ký ban hành Thông tư, Văn phòng phải gửi đến cơ quan Công báo của Văn phòng Chính phủ và trang thông tin điện tử của Bộ 02 bản chính cùng bản ghi điện tử có chứa nội dung chính xác với văn bản chính.
2. Trường hợp Thông tư quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp thì có thể có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành nhưng phải được đăng ngay trên trang thông tin điện tử của Bộ, đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng và vẫn phải đăng Công báo chậm nhất sau 02 ngày làm việc kể từ ngày ký ban hành như quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Chậm nhất sau 03 ngày làm việc kể từ ngày Thông tư được ký ban hành, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi Vụ Pháp chế 01 bản để kiểm tra theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 14/2010/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; theo dõi, đánh giá, rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch.
Điều 14. Đính chính văn bản quy phạm pháp luật
1. Sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành và đăng Công báo, thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức tự kiểm tra văn bản đó. Nếu phát hiện có sai sót thì phải thực hiện việc đính chính như sau:
a) Nếu sai sót thuộc trách nhiệm của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thì cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản phải soạn thảo văn bản đính chính trình Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng đã ký ban hành văn bản đó ký văn bản đính chính;
b) Nếu sai sót thuộc trách nhiệm của cơ quan Công báo thì thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm báo cáo Bộ trưởng và gửi văn bản đề nghị cơ quan Công báo đính chính.
2. Việc đính chính văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành, đã đăng Công báo phải căn cứ vào văn bản gốc và không được làm thay đổi nội dung của quy định trong văn bản gốc. Trường hợp thấy cần thay đổi nội dung quy định trong văn bản gốc, cơ quan chủ trì soạn thảo phải thực hiện theo trình tự sửa đổi văn bản.
Chỉ đính chính đối với lỗi chính tả hoặc sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản, không áp dụng đính chính đối với những sai sót về căn cứ ban hành, thẩm quyền, nội dung của văn bản quy phạm pháp luật.
3. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành, đã đăng Công báo có những sai sót về thẩm quyền, về nội dung thì thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo hoặc Vụ trưởng Vụ Pháp chế phải báo cáo Bộ trưởng đình chỉ ngay việc thi hành văn bản đó và xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 15. Tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước
Việc soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Chương VI
TỔ CHỨC THỰC HIỆN