Thông tư liên tịch Quy định chi tiết chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh Chương 2 — THỦ TỤC ĐƯA NGƯỜI VÀO TRUNG TÂM
Điều 4. Người bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm
1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ, đến 60 tuổi đối với nam, mà có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về việc sử dụng trái phép chất ma túy hoặc đã hết thời hiệu thi hành Quyết định nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính;
b) Đã chấp hành xong Quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn về việc sử dụng trái phép chất ma túy hoặc đã hết thời hiệu thi hành Quyết định nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính;
c) Đã được cấp giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện ma tuý tại gia đình, cộng đồng hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận này nhưng đã hết thời hạn thực hiện Quyết định quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc tại cộng đồng;
d) Người chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không có nơi cư trú nhất định.
2. Người bán dâm từ đủ 16 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam và thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đã chấp hành xong Quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh về hành vi bán dâm hoặc đã hết thời hiệu thi hành các Quyết định nêu trên nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính;
b) Người không có nơi cư trú nhất định có từ hai lần trở lên trong thời hạn mười hai tháng bị xử phạt hành chính về hành vi bán dâm, chưa bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
3. Người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là người thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đang sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc qua điều tra, xác minh, cơ quan chức năng xác định người đó có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; người tự khai báo về việc sử dụng trái phép chất ma túy;
b) Qua xét nghiệm tìm chất ma tuý trong cơ thể người đó có kết quả dương tính mà không chứng minh được tính hợp pháp của việc có chất ma túy.
4. Các trường hợp sau đây được coi là không có nơi cư trú nhất định:
a) Không xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở nhất định;
b) Có nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú nhưng không thường xuyên sinh sống tại đó và thường xuyên đi lang thang, không ở nhất định tại nơi đăng ký thường trú, tạm trú.
Điều 5. Lập hồ sơ đề nghị đưa vào Trung tâm
1. Việc lập hồ sơ đề nghị đưa vào Trung tâm được thực hiện theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP.
2. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm gồm:
a) Bản sơ yếu lý lịch (có dán ảnh 4 x 6 cm và có căn cứ pháp lý xác định độ tuổi) của người được đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm;
b) Bệnh án (nếu có);
c) Biên bản hoặc tài liệu xác nhận về hành vi vi phạm pháp luật của người đó;
Bản sao Quyết định xử phạt hành chính do hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc hành vi bán dâm và biên lai xử phạt (nêu có);
đ) Bản sao Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc hành vi bán dâm, Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, Quyết định quản lý cai nghiện tự nguyện tại gia đình, Quyết định cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng hoặc Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc tại cộng đồng; Quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện (nếu có);
đ) Bản sao Giấy chứng nhận đã chấp hành xong Quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Giấy chứng nhận đã chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh hoặc Giấy chứng nhận hoàn thành thời gian cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng, Giấy chứng nhận đã chấp hành xong Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý (nếu có);
g) Nhận xét của Công an cấp xã, ý kiến của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc cùng cấp mà người đó là thành viên;
i) Văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
Điều 6. Hội đồng tư vấn về việc đưa vào Trung tâm
1. Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP, thành phần Hội đồng tư vấn về việc đưa vào Trung tâm, bao gồm:
a) Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội làm Thường trực và chủ trì cuộc họp của Hội đồng tư vấn;
b) Thành viên bao gồm: Trưởng Công an, Trưởng phòng Tư pháp, Y tế và Chủ tịch Hội phụ nữ cấp huyện.
2. Chậm nhất là ba ngày trước khi họp Hội đồng tư vấn, Thường trực Hội đồng tư vấn phải sao gửi các tài liệu quy định tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư này tới các thành viên Hội đồng.
3. Trong trường hợp thành viên Hội đồng Tư vấn (kể cả Thường trực Hội đồng tư vấn) không tham dự cuộc họp thì cơ quan của thành viên đó có trách nhiệm cử lãnh đạo khác tham dự. Thành viên dự họp thay có quyền biểu quyết như thành viên chính thức. Hội đồng Tư vấn chỉ họp khi có ít nhất hai phần ba (2/3) số thành viên tham dự và phải được lập thành biên bản (Mẫu số 01).
Điều 7. Quyết định đưa vào Trung tâm
1. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Hội đồng Tư vấn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, Quyết định việc đưa vào Trung tâm.
2. Quyết định đưa vào Trung tâm (Mẫu số 02) phải được gửi cho người bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm, gia đình người đó, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan Công an, Hội đồng nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
Điều 8. Thi hành Quyết định đưa vào Trung tâm
1. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định, Công an quận, huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết tắt là Công an cấp huyện) có trách nhiệm đưa người phải chấp hành Quyết định vào Trung tâm; việc thi hành Quyết định phải được lập thành biên bản (Mẫu số 03). Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại Công an cấp huyện, một bản gửi kèm hồ sơ đưa người vào Trung tâm.
2. Trường hợp người có Quyết định đưa vào Trung tâm nhưng chưa đưa đi chấp hành Quyết định mà có đơn đề nghị hoãn hoặc miễn chấp hành Quyết định thì phải tiếp nhận, xem xét ngay. Nếu thấy có đủ điều kiện để được hoãn hoặc miễn theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này thì Trưởng Công an cấp huyện phải có văn bản đề xuất, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp ra Quyết định hoãn hoặc miễn chấp hành Quyết định cho người đó và thông báo cho cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện biết.
Thời gian chấp hành Quyết định đưa vào Trung tâm được tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp này được đưa đi chấp hành Quyết định (bao gồm cả thời gian đi đường và thời gian lưu giữ hành chính).
3. Người phải chấp hành Quyết định đưa vào Trung tâm hoặc người bị bắt giữ theo Quyết định truy tìm, nếu không tự giác chấp hành hoặc có hành vi chống đối thì có thể bị khóa tay để áp giải hoặc bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết khác theo quy định của pháp luật để buộc phải chấp hành. Trường hợp hành vi chống đối có dấu hiệu của tội phạm thì phải lập hồ sơ để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Tiếp nhận người bị đưa vào Trung tâm
1. Việc tiếp nhận người bị đưa vào Trung tâm được thực hiện theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP.
2. Việc tiếp nhận người bị đưa vào Trung tâm phải được lập thành biên bản, trong đó ghi rõ tình trạng sức khỏe của người đó, tài liệu, hồ sơ, tư trang, đồ dùng cá nhân mang theo (Mẫu số 04). Biên bản giao, nhận được lập thành ba bản, bên giao và bên nhận mỗi bên giữ một bản, một bản gửi Thường trực Hội đồng Tư vấn để lưu hồ sơ.
3. Bộ phận y tế của Trung tâm có trách nhiệm kiểm tra sức khoẻ và lập hồ sơ bệnh án của người bị đưa vào Trung tâm để theo dõi, quản lý. Trường hợp người được giao nhận có tình trạng sức khỏe không bình thường thì phải làm biên bản xác nhận tình trạng sức khỏe (Mẫu số 05).
Hoãn, miễn chấp hành Quyết định; đình chỉ thi hành Quyết định đưa vào Trung tâm
Điều 10. Hoãn, miễn chấp hành Quyết định; đình chỉ thi hành Quyết định đưa vào Trung tâm
1. Người bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm được hoãn, miễn chấp hành Quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 Điều 18 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP, trong đó lưu ý:
a) Người có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật là người tích cực lao động, học tập, tích cực tham gia các phong trào chung của địa phương, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận;
b) Người lập công phải được biểu hiện bằng những hành động cụ thể như: tố cáo những hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; dũng cảm cứu người, cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc nơi người đó lập công khen thưởng; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị trong lao động, sản xuất, được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận; có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và được tặng giấy khen của Công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên.
2. Thời hạn được hoãn: Đối với trường hợp ốm nặng thì có thể cho hoãn chấp hành Quyết định đến khi khỏi bệnh. Trường hợp phụ nữ đang nuôi con nhỏ thì được hoãn đến khi con đủ 36 tháng tuổi.
Công an cấp huyện, cấp xã có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp kiểm tra, giám sát người được hoãn chấp hành Quyết định; khi điều kiện được hoãn không còn thì các đối tượng trên phải tiếp tục chấp hành Quyết định đưa vào Trung tâm; nếu không tự giác, sẽ bị cưỡng chế thi hành.
3. Đối tượng đang được hoãn chấp hành Quyết định đưa vào Trung tâm chỉ được xét miễn chấp hành Quyết định khi thời gian đã được hoãn ít nhất bằng một nửa thời hạn ghi trong Quyết định đưa vào Trung tâm; trường hợp lập công thì có thể được xét miễn sớm hơn. Quyết định hoãn, miễn chấp hành Quyết định đưa vào Trung tâm được thực hiện theo Mẫu số 06 và Mẫu số 07 ban hành kèm theo Thông tư này.
4. Người phải chấp hành Quyết định đưa vào Trung tâm bị chết trước khi thi hành Quyết định thì Trưởng Công an cấp huyện báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp ra Quyết định đình chỉ việc thi hành Quyết định đó.
Truy tìm và bắt giữ người đã có Quyết định đưa vào Trung tâm bỏ trốn
Điều 11. Truy tìm và bắt giữ người đã có Quyết định đưa vào Trung tâm bỏ trốn
1. Việc truy tìm và bắt giữ người đã có Quyết định đưa vào Trung tâm bỏ trốn (viết tắt là người bỏ trốn) được thực hiện theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này.
2. Quyết định truy tìm người bỏ trốn của Trưởng Công an cấp huyện (trường hợp người bỏ trốn chưa được bàn giao cho Trung tâm) hoặc của Giám đốc Trung tâm (trường hợp người bỏ trốn đang chấp hành Quyết định tại Trung tâm) được lập theo Mẫu số 08 ban hành kèm theo Thông tư này.
Tùy từng trường hợp cụ thể, Quyết định truy tìm được gửi cho cơ quan Công an và Ủy ban nhân dân địa phương nơi cần thiết để phục vụ cho việc truy tìm và bắt giữ đối tượng.
3. Khi bắt được đối tượng bỏ trốn hoặc nhận bàn giao đối tượng, cơ quan Công an phải lập biên bản, lấy lời khai của người đó, đồng thời thông báo ngay cho cơ quan đã ra Quyết định truy tìm biết để đến nhận đối tượng. Trường hợp cần thiết thì người có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính ra Quyết định tạm giữ hành chính và đưa họ về nơi tạm giữ hành chính của cơ quan Công an.
Thời gian bỏ trốn không được tính vào thời hạn chấp hành Quyết định đưa vào Trung tâm.
Tạm thời đưa người đang chấp hành Quyết định ra khỏi Trung tâm theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự
Điều 12. Tạm thời đưa người đang chấp hành Quyết định ra khỏi Trung tâm theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự
1. Việc tạm thời đưa người đang chấp hành Quyết định ra khỏi Trung tâm được thực hiện khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền quy định tại Điều 20 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP. Văn bản yêu cầu phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, Giấy chứng minh nhân dân (nếu có), nơi cư trú, lý do và thời hạn tạm thời đưa người đang chấp hành ra khỏi Trung tâm; số Quyết định đưa vào Trung tâm; ngày, tháng, năm, người ra Quyết định. Căn cứ vào công văn đề nghị, Giám đốc Trung tâm ra Quyết định tạm thời đưa người đang chấp hành Quyết định ra khỏi Trung tâm (Mẫu số 09) và bàn giao cho cán bộ Công an đến nhận người. Cán bộ đến nhận người phải có Giấy chứng minh Công an nhân dân và Giấy giới thiệu của cơ quan Công an từ cấp huyện trở lên. Việc giao, nhận phải được lập thành biên bản.
2. Khi hết thời hạn đưa người đang chấp hành Quyết định ra khỏi Trung tâm, cơ quan đã có yêu cầu phải có trách nhiệm đưa trả người đó về Trung tâm. Trường hợp cần gia hạn thì Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền phải có công văn đề nghị Giám đốc Trung tâm ra Quyết định về việc gia hạn (Mẫu số 10).
Chuyển hồ sơ đối tượng thuộc diện đưa vào Cơ sở giáo dục, Trường giáo dưỡng
Điều 13. Chuyển hồ sơ đối tượng thuộc diện đưa vào Cơ sở giáo dục, Trường giáo dưỡng
1. Việc chuyển hồ sơ đối tượng thuộc diện đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 21a Nghị định số 135/2004/NĐ-CP, trong đó lưu ý:
a) Thời điểm xác định độ tuổi làm căn cứ để xem xét Quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục, Trường giáo dưỡng là thời điểm ký Quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục hoặc Trường giáo dưỡng;
b) Hội đồng Tư vấn khi xét duyệt hồ sơ đề nghị đưa vào Trung tâm nếu thấy đối tượng thuộc diện đưa vào Cơ sở giáo dục, Trường giáo dưỡng thì phải ghi vào biên bản họp và có trách nhiệm báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã lập hồ sơ đề nghị đưa vào Trung tâm, đồng thời chuyển hồ sơ cho cơ quan Công an cùng cấp để thẩm tra, xác minh, làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục, Trường giáo dưỡng theo quy định của pháp luật.
2. Trách nhiệm lập hồ sơ, thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục, Trường giáo dưỡng đối với người đang chấp hành Quyết định tại Trung tâm được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 21a Nghị định số 135/2004/NĐ-CP.
MỤC II. THỦ TỤC ĐƯA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN NGHIỆN MA TÚY VÀ NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY, NGƯỜI BÁN DÂM TỰ NGUYỆN VÀO TRUNG TÂM
Đỉều 14. Thủ tục đưa người chưa thành niên nghiện ma túy vào Trung tâm
1. Thủ tục lập, xét duyệt hồ sơ và tiếp nhận người chưa thành niên nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm được thực hiện theo quy định tại các Điều 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 và 17 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP và các Điều 5, 6, 7, 8 và 9 của Thông tư này.
2. Quyết định đưa người chưa thành niên nghiện ma túy vào Trung tâm
a) Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Hội đồng tư vấn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, Quyết định việc đưa người chưa thành niên nghiện ma túy vào Trung tâm;
b) Quyết định được gửi cho người bị đưa vào Trung tâm, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an, Hội đồng nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
Quyết định đưa người chưa thành niên nghiện ma túy vào Trung tâm không phải là Quyết định xử lý vi phạm hành chính.
3. Thủ tục tiếp nhận người chưa thành niên nghiện ma túy vào Trung tâm
a) Kiểm tra hồ sơ và Quyết định đưa người chưa thành niên nghiện ma túy vào Trung tâm;
b) Đối chiếu hồ sơ của người được đưa vào Trung tâm với giấy Chứng minh nhân dân của người đó (nếu có);
c) Bộ phận y tế của Trung tâm khám sức khỏe khi tiếp nhận để theo dõi, quản lý;
d) Đại diện Công an cấp huyện và Trung tâm lập biên bản giao, nhận người phải chấp hành Quyết định và hồ sơ kèm theo, ghi rõ những tài liệu có trong hồ sơ, tình trạng sức khỏe của người đó, tư trang, đồ dùng cá nhân mang theo. Biên bản giao nhận được lập thành hai bản, bên giao và bên nhận mỗi bên giữ một bản.
MỤC II — THỦ TỤC ĐƯA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN NGHIỆN MA TÚY VÀ NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY, NGƯỜI BÁN DÂM TỰ NGUYỆN VÀO TRUNG TÂM
Thủ tục đưa người nghiện ma túy, người bán dâm tự nguyện vào cai nghiện, chữa trị, phục hồi tại Trung tâm
Điều 15. Thủ tục đưa người nghiện ma túy, người bán dâm tự nguyện vào cai nghiện, chữa trị, phục hồi tại Trung tâm
1. Thủ tục lập, xét duyệt hồ sơ và tiếp nhận người nghiện ma túy, người bán dâm tự nguyện vào cai nghiện, chữa trị, phục hồi tại Trung tâm được thực hiện theo quy định tại các Điều 26, 27, 28 và 29 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP.
2. Hồ sơ xét duyệt, tiếp nhận người tự nguyện vào Trung tâm:
a) Đơn của người tự nguyện xin vào Trung tâm (Mẫu số 11);
b) Bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng nhận tạm trú dài hạn (có công chứng hoặc kèm theo bản chính để đối chiếu).
3. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của người tự nguyện xin vào Trung tâm, Giám đốc Trung tâm xét duyệt hồ sơ và căn cứ vào khả năng tiếp nhận của Trung tâm để ra Quyết định tiếp nhận (Mẫu số 12).
Quyết định tiếp nhận được gửi cho người tự nguyện xin vào Trung tâm, cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột hoặc người giám hộ (đối với người chưa thành niên) và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
4. Đối với những trường hợp qua xét duyệt hồ sơ phát hiện người tự nguyện xin vào Trung tâm đang bị cơ quan Công an lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng hoặc là tội phạm đang bị truy nã, Giám đốc Trung tâm từ chối tiếp nhận và báo ngay cho cơ quan Công an nơi gần nhất biết. Trường hợp Giám đốc Trung tâm đã ra Quyết định tiếp nhận mới phát hiện thì hủy Quyết định tiếp nhận.
5. Thủ tục tiếp nhận người vào Trung tâm
a) Cán bộ tiếp nhận kiểm tra, đối chiếu người tự nguyện xin vào Trung tâm với Quyết định tiếp nhận và hồ sơ;
b) Bộ phận y tế của Trung tâm khám sức khoẻ và lập hồ sơ bệnh án để xác định tình trạng sức khoẻ khi tiếp nhận;
c) Trung tâm có trách nhiệm lập Biên bản về việc tiếp nhận và ghi rõ tình trạng sức khoẻ của người được tiếp nhận; tư trang, đồ dùng cá nhân mang theo. Biên bản tiếp nhận được lập thành hai bản, người vào cai nghiện, chữa trị và Trung tâm mỗi bên giữ một bản.
Trường hợp người được tiếp nhận vào Trung tâm là người chưa thành niên thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó có trách nhiệm làm thủ tục tiếp nhận với Trung tâm.
6. Thời hạn chữa trị, cai nghiện, phục hồi tại Trung tâm
a) Thời hạn chữa trị, cai nghiện, phục hồi tại Trung tâm ít nhất là sáu tháng đối với người nghiện ma túy, ba tháng đối với người bán dâm;
b) Khi hết thời hạn cai nghiện, chữa trị, phục hồi, Giám đốc Trung tâm cấp Giấy chứng nhận đã chữa trị, cai nghiện, phục hồi và gửi bản sao Giấy chứng nhận đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú;
c) Trong thời gian chữa trị, cai nghiện, nếu người tự nguyện xin vào Trung tâm không muốn tiếp tục ở lại Trung tâm thì phải có đơn gửi Giám đốc Trung tâm xem xét, quyết định. Đơn phải có ý kiến đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột hoặc người giám hộ (đối với người chưa thành niên);
d) Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được đơn, Giám đốc Trung tâm xem xét, quyết định chấm dứt việc cai nghiện, chữa trị tự nguyện tại Trung tâm; Quyết định được lập thành văn bản và gửi cho cho người tự nguyện, cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột hoặc người giám hộ (nếu là người chưa thành niên) và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
Chương 3.
CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐƯỢC ĐƯA VÀO TRUNG TÂM
MỤC I. CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜÍ BỊ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO TRUNG TÂM