Thông tư liên tịch Quy định chi tiết chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh Chương 3 — CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐƯỢC ĐƯA VÀO TRUNG TÂM
Điều 16. Chế độ quản lý, đánh giá, xếp loại học viên
1. Học viên cai nghiện, chữa trị được quản lý theo các tổ, đội; mỗi tổ không quá 20 người; mỗi đội không quá 5 tổ. Hàng tuần, tháng, quý, Trung tâm tổ chức cho các tổ sinh hoạt để bình bầu, đánh giá kết quả học tập, lao động và rèn luyện của học viên theo bốn loại: tốt, khá, trung bình và yếu.
2. Học viên cai nghiện, chữa trị từ năm ngày trong tuần trở lên được bình xét và xếp loại theo tuần. Kết quả xếp loại dựa trên thang điểm quy định tại Tiêu chí chấm điểm kết quả phấn đấu, rèn luyện hàng tuần của học viên (sau đây viết tắt là Tiêu chí chấm điểm, Phụ lục số 01).
Thứ bảy hàng tuần, cán bộ phụ trách tổ cho các thành viên tổ họp bình xét, xếp loại. Căn cứ vào Tiêu chí chấm điểm, từng học viên tự xếp loại cho mình, các thành viên khác nhận xét và biểu quyết thông qua. Kết quả bình xét được thông qua khi có ít nhất 2/3 số người dự họp đồng ý. Việc bình xét phải được lập thành biên bản có chữ ký của Tổ trưởng và cán bộ phụ trách.
3. Kết quả xếp loại học viên được thông báo công khai trên phương tiện thông tin của Trung tâm vào sáng chủ nhật cùng tuần. Nếu không có ý kiến khiếu nại, chậm nhất thứ tư tuần kế tiếp, Tổ trưởng phải gửi kết quả về phòng chuyên môn phụ trách công tác quản lý học viên để ghi Phiếu theo dõi đánh giá, xếp loại học viên (Mẫu số 13) và lưu hồ sơ quản lý.
4. Cán bộ, học viên Trung tâm trong thời gian hai ngày, kể từ khi thông báo kết quả xếp loại, nếu phát hiện các trường hợp xếp loại không chính xác, thì báo cáo Giám đốc Trung tâm và cán bộ phụ trách tổ đó để xem xét lại.
Khi nhận được khiếu nại, cán bộ phụ trách phải triệu tập họp tổ để xem xét lại trường hợp bị khiếu nại; việc họp lại phải được lập thành biên bản và gửi về phòng phụ trách công tác quản lý học viên.
5. Học viên có thời gian cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm từ đủ ba tuần trở lên được xếp loại theo tháng; nếu từ đủ hai tháng trở lên được xếp loại theo quý. Việc xếp loại được thực hiện theo hướng dẫn tại Tiêu chí xếp loại học viên (Phụ lục số 02).
Chế độ ở, sinh hoạt văn hóa, hoạt động thể dục thể thao
Điều 17. Chế độ ở, sinh hoạt văn hóa, hoạt động thể dục thể thao
1. Học viên được bố trí nơi ở phù hợp với giới tính, độ tuổi và tình trạng sức khỏe. Diện tích nằm tối thiểu cho mỗi học viên là 2,5m2. Phòng ở phải bảo đảm thoáng mát về mùa hè, kín gió về mùa đông, hợp vệ sinh môi trường.
2. Hàng ngày, ngoài thời gian học tập và lao động, Trung tâm tổ chức cho học viên tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, đọc sách, báo, xem truyền hình và các hoạt động vui chơi giải trí khác; tùy theo điều kiện của Trung tâm, định kỳ hàng tháng, hàng quý tổ chức giao lưu văn nghệ giữa các tổ, đội.
3. Tùy theo điều kiện và quy mô, mỗi Trung tâm có thể xây dựng một hay nhiều tủ sách và phòng đọc cho học viên; tổ chức cho học viên tham gia xây dựng tờ tin hàng tuần nhằm thông tin về hoạt động của Trung tâm và nêu gương các tổ, đội, các học viên đạt thành tích tốt trong rèn luyện, học tập, lao động.
4. Hàng ngày, Trung tâm tổ chức tiếp sóng các chương trình thời sự trên hệ thống truyền thanh, truyền hình để học viên được tiếp cận các thông tin cần thiết.
Điều 18. Chế độ tư vấn
1. Hoạt động tư vấn phải do cán bộ chuyên trách, được đào tạo về nghiệp vụ tư vấn của Trung tâm thực hiện. Trường hợp học viên gặp các vấn đề tâm lý phức tạp, vượt quá khả năng của cán bộ Trung tâm thì Trung tâm được mời cán bộ tư vấn chuyên nghiệp.
2. Khi học viên có nhu cầu được tư vấn cá nhân, Trung tâm phải bố trí cán bộ tư vấn kịp thời để nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng cũng như diễn biến tâm lý của học viên, kịp thời tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho học viên.
3. Học viên được tham gia các hoạt động tư vấn nhóm ít nhất 2 lần/tuần, mỗi lần không quá 90 phút, mỗi nhóm tư vấn không quá 20 người. Trung tâm phải bố trí phòng tư vấn, có thời gian biểu hoạt động cụ thể.
4. Tùy theo điều kiện cụ thể của Trung tâm và sự tự nguyện của gia đình học viên, Trung tâm có thể triển khai các hoạt động tư vấn nhóm cho gia đình học viên, mỗi tuần không quá một buổi, mỗi buổi không quá 90 phút.
5. Hàng năm, Trung tâm thực hiện việc khảo sát, đánh giá nhu cầu để lập kế hoạch và dự toán kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư vấn, báo cáo Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định, phê duyệt, trình cấp có thẩm quyền quyết định.
6. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổng hợp kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư vấn báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (qua Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội) để phối hợp hướng dẫn, chỉ đạo, hỗ trợ về kinh phí và chuyên môn.
Điều 19. Chế độ lao động
1. Việc phân công, bố trí lao động cho học viên tại Trung tâm phải phù hợp với sức khỏe, độ tuổi, giới tính của học viên. Thời gian lao động của học viên không quá 4 giờ/ngày. Thời gian lao động, học tập, tư vấn không quá 8 giờ/ngày. Học viên được nghỉ lao động các ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật.
2. Việc khoán sản phẩm phải phù hợp với sức khỏe, độ tuổi, giới tính của học viên. Học viên lao động vượt mức khoán được khen thưởng, biểu dương và được hưởng toàn bộ số tiền công làm vượt khoán. Trường hợp không đạt mức khoán thì bị phê bình, nhắc nhở trong các buổi sinh hoạt tập thể.
3. Học viên có thể sử dụng tiền thưởng, tiền thu nhập từ lao động để mua đồ ăn, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, gửi lưu ký và nhận lại khi ra khỏi Trung tâm hoặc gửi về gia đình theo Quy định của Trung tâm.
4. Định kỳ sáu tháng, một năm, Trung tâm phải báo cáo cụ thể tình hình tố chức lao động và sử dụng kết quả lao động của học viên về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để theo dõi, kiểm tra.
Điều 20. Chế độ thăm, gặp thân nhân
1. Trừ những trường hợp đang trong giai đoạn cắt cơn, giải độc hoặc mới được tiếp nhận vào Trung tâm dưới 15 ngày hoặc đang trong thời gian chờ Hội đồng xét kỷ luật hoặc đang bị thi hành kỷ luật bằng hình thức giáo dục tại phòng kỷ luật, học viên được phép thăm gặp thân nhân là người có mối quan hệ gia đình, họ hàng với học viên.
2. Định kỳ từ 2 đến 5 ngày trong một tuần, Trung tâm tổ chức cho học viên được gặp thân nhân của mình. Mỗi học viên được gặp không quá mỗi tuần một lần, mỗi lần không quá 2 giờ và tối đa không quá 3 người trong một lần gặp.
3. Học viên có vợ hoặc chồng và có thời gian ở Trung tâm từ 2 tháng trở lên, nếu tháng trước đó được xếp loại khá trở lên thì được Giám đốc Trung tâm xem xét, cho phép thăm gặp tại phòng riêng của Trung tâm một lần trong tháng kế tiếp và tối đa không quá 24 giờ cho một lần gặp.
4. Khi tới thăm gặp học viên, thân nhân học viên xuất trình Giấy chứng minh nhân dân và điền vào Đơn đề nghị thăm gặp học viên do Trung tâm cung cấp (Mẫu số 14).
5. Thân nhân được mang vào cho học viên các đồ dùng như chăn, màn, quần, áo và các đồ dùng sinh hoạt thiết yếu khác để sử dụng; đồ ăn, đồ uống không có chất cồn chỉ được sử dụng tại phòng thăm gặp; tiền, các giấy tờ có giá trị và thuốc chữa bệnh phải gửi lưu ký theo quy định của Trung tâm.
6. Giám đốc Trung tâm Quyết định thành lập Tổ thăm gặp gồm cán bộ thuộc các phòng nghiệp vụ của Trung tâm. Cán bộ Tổ thăm gặp có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, quản lý hoạt động thăm gặp, giải đáp những thắc mắc của thân nhân và học viên về chế độ thăm gặp, có quyền đình chỉ việc thăm gặp nếu vi phạm nội quy Trung tâm và chế độ thăm gặp và có trách nhiệm cập nhật thông tin theo dõi hoạt động thăm gặp vào sổ thăm gặp học viên (Mẫu số 15) vào Sổ giám sát hoạt động thăm gặp (Mẫu số 16).
Điều 21. Chế độ nghỉ chịu tang
1. Việc giải quyết cho học viên về gia đình khi có việc tang của thân nhân được thực hiện theo Điều 33 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này.
2. Gia đình học viên phải làm Đơn đề nghị có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi học viên cư trú gửi Giám đốc Trung tâm. Nội dung Đơn phải nêu rõ họ tên, số Chứng minh nhân dân, nơi cư trú, mối quan hệ với học viên, thời gian đề nghị cho học viên được nghỉ chịu tang và cam kết quản lý, giám sát không để học viên sử dụng ma túy trái phép hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác trong thời gian về chịu tang, chịu chi phí đón học viên về nhà và đưa trở lại Trung tâm.
3. Ngay sau khi nhận được đơn đề nghị của gia đình học viên, Giám đốc Trung tâm (hoặc người được Giám đốc Trung tâm ủy quyền) phải xem xét, Quyết định việc cho học viên nghỉ chịu tang. Quyết định phải bằng văn bản, nêu rõ thời gian được nghỉ, trách nhiệm của gia đình trong việc đưa đón, quản lý học viên trong thời gian về chịu tang (Mẫu số 17). Quyết định được gửi cho gia đình học viên, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và lưu trong hồ sơ học viên.
4. Việc cho phép học viên về chịu tang và khi tiếp nhận học viên trở lại Trung tâm phải được lập thành biên bản giao nhận với gia đình học viên; biên bản được lập thành hai bản, bên giao, bên nhận mỗi bên giữ một bản.
5. Học viên khi về gia đình phải xuất trình Quyết định của Giám đốc Trung tâm cho phép về nghỉ chịu tang với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
6. Khi tiếp nhận học viên trở lại Trung tâm, phải xét nghiệm tìm chất ma túy đối với học viên đó. Kết quả xét nghiệm được thông báo công khai cho học viên, gia đình biết và được ghi vào biên bản để làm cơ sở để bình bầu, xếp loại và có hình thức kỷ luật thích hợp.
Điều 22. Chế độ khen thưởng - kỷ luật
1. Việc khen thưởng và kỷ luật đối với học viên được thực hiện theo quy định tại Điều 70 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP.
2. Hội đồng Khen thưởng - Kỷ luật:
a) Giám đốc Trung tâm ra Quyết định thành lập Hội đồng Khen thưởng - Kỷ luật (sau đây viết tắt là Hội đồng) đối với học viên, bao gồm lãnh đạo Trung tâm và lãnh đạo các phòng chuyên môn của Trung tâm. Giám đốc Trung tâm là Chủ tịch Hội đồng, Trưởng phòng phụ trách công tác quản lý học viên là Thư ký Hội đồng;
b) Định kỳ hàng quý hoặc đột xuất, Hội đồng họp xem xét và biểu quyết khen thưởng, kỷ luật đối với từng trường hợp cụ thể trên cơ sở kết quả bình bầu, đề nghị của tổ và ý kiến nhận xét của cán bộ quản lý. Trường hợp số phiếu biểu quyết bằng nhau thì ý kiến của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến Quyết định.
3. Hồ sơ đề nghị khen thưởng, kỷ luật do cán bộ phụ trách tổ lập và gửi lên Hội đồng trong tuần đầu tiên của quý tiếp theo đối với trường hợp khen thưởng định kỳ, hoặc chậm nhất là hai ngày sau khi họp tổ đề nghị xét khen thưởng, kỷ luật đột xuất.
Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Chủ tịch Hội đồng phải triệu tập họp Hội đồng xét khen thưởng, kỷ luật. Kết quả xét khen thưởng, kỷ luật được thông báo trên phương tiện thông tin của Trung tâm. Trong thời hạn ba ngày, nếu không có khiếu nại, Giám đốc Trung tâm ký Quyết định khen thưởng, kỷ luật. Trường hợp có khiếu nại, Chủ tịch Hội đồng phải triệu tập cuộc họp để xem xét về nội dung khiếu nại đó.
4. Chế độ khen thưởng:
Học viên nếu có thành tích xuất sắc trong học tập, lao động, thì được Giám đốc Trung tâm khen thưởng bằng một trong các hình thức sau:
a) Biểu dương, khen thưởng bằng tiền hoặc hiện vật từ Quỹ thi đua khen thưởng của Trung tâm (nếu có);
b) Tăng số lần được thăm gặp thân nhân: tối đa mỗi tuần hai lần trong vòng một tháng;
c) Được đề nghị giảm hoặc miễn thời gian chấp hành Quyết định.
5. Việc xét khen thưởng định kỳ đối với học viên được thực hiện dựa trên kết quả bình bầu, xếp loại của học viên theo tiêu chí sau:
a) Đối với hình thức biểu dương: trong quý xét khen thưởng được xếp loại khá, trong đó có 1 tháng được xếp loại tốt;
b) Đối với hình thức khen thưởng tăng số lần thăm gặp gia đình: trong quý xét khen thưởng được xếp loại tốt;
c) Đối với hình thức đề nghị giảm hoặc miễn thời gian chấp hành Quyết định: thực hiện theo quy định tại Điều 61 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP và hướng dẫn tại Điều 24 của Thông tư này.
6. Hồ sơ đề nghị khen thưởng định kỳ gồm:
- Phiếu theo dõi đánh giá, xếp loại của người được đề nghị khen thưởng;
- Báo cáo thành tích học tập, lao động, rèn luyện của người được đề nghị khen thưởng;
- Biên bản họp tổ đề nghị khen thưởng.
7. Việc xét khen thưởng đột xuất áp dụng đối với học viên thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Tích cực, quên mình trong phòng, chống thiên tai, hỏa hoạn để bảo vệ tính mạng của người khác, tài sản của Trung tâm;
b) Cung cấp thông tin để phát hiện, ngăn ngừa, bắt giữ tội phạm;
c) Giúp cơ quan chức năng phát hiện, ngăn ngừa các hành vi trốn, chống phá Trung tâm.
8. Hồ sơ đề nghị khen thưởng đột xuất gồm:
- Báo cáo thành tích của người được đề nghị khen thưởng;
- Biên bản họp tổ đề nghị khen thưởng có tối thiểu 2/3 số người dự họp đồng ý.
9. Định kỳ hàng quý hoặc đột xuất, cán bộ phụ trách tổ cho sinh hoạt tổ để bình bầu, đề nghị xét khen thưởng đối với học viên trong tổ trên cơ sở kết quả đánh giá, xếp loại định kỳ hàng tháng, quý hoặc thành tích đột xuất. Việc bình bầu được thực hiện theo hình thức bỏ phiếu kín, kết quả được ghi vào biên bản có xác nhận của Tổ trưởng và cán bộ phụ trách tổ.
10. Chế độ kỷ luật:
a) Học viên nếu vi phạm nội quy của Trung tâm, không chịu tham gia lao động, học tập thì sẽ bị xem xét, kỷ luật bằng một trong các hình thức sau:
- Phê bình: áp dụng đối với trường hợp có hành vi vi phạm lần đầu ở mức độ nhẹ hoặc do lỗi vô ý;
- Cảnh cáo: áp dụng đối với người vi phạm lần đầu nhưng ở mức độ nặng hoặc vi phạm nhiều lần, tái phạm;
- Giáo dục tại phòng kỷ luật: áp dụng đối với trường hợp hành vi vi phạm ở mức độ nghiêm trọng như xâm hại sức khỏe người khác, gây rối an ninh, trật tự tại Trung tâm, chống người thi hành công vụ, trốn hoặc tổ chức trốn khỏi Trung tâm. Thời gian giáo dục tại phòng kỷ luật tối đa là bảy ngày cho một lần quyết định.
Ngoài các hình thức kỷ luật trên thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, học viên có thể bị áp dụng các hình thức kỷ luật bổ sung như: buộc công khai xin lỗi, hạn chế số lần thăm gặp thân nhân, lao động công ích tại Trung tâm v.v...
b) Cán bộ quản lý học viên có trách nhiệm lập biên bản hành vi vi phạm, gửi cho cán bộ phụ trách tổ. Trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được biên bản vi phạm, cán bộ phụ trách tổ yêu cầu người vi phạm viết bản tự kiểm điểm và họp tổ xét kỷ luật. Việc họp tổ được lập biên bản có chữ ký của Tổ trưởng và cán bộ phụ trách tổ.
c) Hồ sơ đề nghị kỷ luật gồm:
- Phiếu theo dõi đánh giá, xếp loại của người bị đề nghị kỷ luật;
- Biên bản vi phạm;
- Bản tự kiểm điểm của người vi phạm;
- Biên bản họp tổ về việc xét kỷ luật.
11. Giám đốc Trung tâm Quyết định áp dụng các hình thức khen thưởng, kỷ luật bằng văn bản (Mẫu số 18, Mẫu số 19) và lưu vào hồ sơ của học viên.
Điều 23. Tạm đình chỉ thi hành Quyết định tại Trung tâm
1. Học viên nếu mang thai hoặc bị ốm nặng, có Giấy chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên thì làm Đơn đề nghị tạm đình chỉ thi hành Quyết định gửi Giám đốc Trung tâm.
2. Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày nhận được đơn, Giám đốc Trung tâm phải làm văn bản đề nghị, kèm theo Đơn và Giấy chứng nhận của bệnh viện đối với người được đề nghị, gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện nơi lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm để thẩm tra, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải xem xét, quyết định việc tạm đình chỉ thi hành Quyết định tại Trung tâm (Mẫu số 20).
Chậm nhất trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày về đến nơi cư trú, người được tạm đình chỉ thi hành Quyết định tại Trung tâm hoặc gia đình người đó phải trình báo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
3. Trường hợp khi hết thời hạn tạm đình chỉ thi hành Quyết định tại Trung tâm nếu vẫn còn ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên, thì được gia hạn Quyết định tạm đình chỉ.
4. Trường hợp người đang được tạm đình chỉ chấp hành Quyết định bị chết thì gia đình phải làm thủ tục đăng ký khai tử với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và gửi bản sao Giấy chứng tử cho Trung tâm. Giám đốc Trung tâm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã ra Quyết định để xoá tên khỏi danh sách người đang được quản lý, cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm.
Giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành Quyết định tại Trung tâm
Điều 24. Giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành Quyết định tại Trung tâm
1. Định kỳ hàng quý hoặc đột xuất khi có học viên thuộc diện được giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành Quyết định tại Trung tâm theo quy định tại Điều 61 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP, Giám đốc Trung tâm có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị và tổ chức họp Hội đồng xét giảm hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại Trung tâm (gọi tắt là Hội đồng xét giảm hoặc miễn), cụ thể:
a) Xét giảm thời hạn đối với người có tiến bộ rõ rệt trong thời gian chấp hành Quyết định tại Trung tâm. Thời gian giảm tối đa không quá 1/3 thời gian chấp hành Quyết định tại Trung tâm. Mỗi đối tượng được xét giảm không quá một lần trong thời gian chấp hành Quyết định tại Trung tâm;
b) Xét miễn chấp hành phần thời gian còn lại đối với người lập công hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.
Người mắc bệnh hiểm nghèo là người đang bị mắc một trong các bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.
2. Thành phần Hội đồng xét giảm hoặc miễn gồm: Giám đốc Trung tâm là Chủ tịch Hội đồng, các thành viên là Trưởng các phòng chuyên môn của Trung tâm.
3. Căn cứ vào Nội quy, Quy chế của Trung tâm, kết quả nhận xét, đánh giá hàng tháng tại các tổ, đội và thành tích của từng học viên, Hội đồng xét giảm hoặc miễn xem xét, biểu quyết đối với từng trường hợp cụ thể và kết luận theo đa số. Trường hợp số phiếu biểu quyết bằng nhau thì ý kiến của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến quyết định.
4. Trong thời hạn hai ngày, kể từ khi nhận được Biên bản họp của Hội đồng, Giám đốc Trung tâm làm công văn đề nghị, kèm theo danh sách các trường hợp được đề nghị và Biên bản họp Hội đồng, gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện nơi lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm để thẩm tra, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định (Mẫu số 21, Mẫu số 22).
5. Trong thời gian chờ cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, nếu người được đề nghị có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, quy chế của Trung tâm thì Giám đốc Trung tâm có trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng và làm văn bản gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đưa người đó ra khỏi danh sách xét giảm hoặc miễn. Trường hợp đã có Quyết định giảm, miễn nhưng chưa thi hành thì đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hủy Quyết định (Mẫu số 23, Mẫu số 24).
Điều 25. Hết hạn chấp hành Quyết định đưa vào Trung tâm
1. Trước khi kết thúc thời gian cai nghiện bắt buộc 45 ngày, Giám đốc Trung tâm có trách nhiệm tổ chức Hội đồng xét duyệt người có nguy cơ tái nghiện cao, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú hoặc tại Trung tâm quản lý sau cai nghiện theo quy định tại Nghị định số 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy về quản lý sau cai nghiện ma túy (sau đây viết tắt là Nghị định số 94/2009/NĐ-CP).
2. Sau khi có Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú hoặc tại Trung tâm quản lý sau cai nghiện đối với người hết hạn chấp hành Quyết định cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm, Giám đốc Trung tâm có trách nhiệm bàn giao người và hồ sơ cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trung tâm nơi chịu trách nhiệm quản lý sau cai nghiện đối với người đó theo quy định tại Nghị định số 94/2009/NĐ-CP.
3. Đối với người bán dâm khi hết thời hạn chấp hành Quyết định, Giám đốc Trung tâm cấp Giấy chứng nhận đã chấp hành xong Quyết định (Mẫu số 25) cho người đó và gửi bản sao Giấy chứng nhận tới Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã ra Quyết định, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và gia đình người đó.
MỤC II. CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN, CHỮA TRỊ TỰ NGUYỆN TẠI TRUNG TÂM
MỤC II — CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN, CHỮA TRỊ TỰ NGUYỆN TẠI TRUNG TÂM
Chế độ quản lý, cai nghiện, chữa trị cho người chưa thành niên
Điều 26. Chế độ quản lý, cai nghiện, chữa trị cho người chưa thành niên
1. Chế độ quản lý, cai nghiện, chữa trị cho học viên là người chưa thành niên được thực hiện theo quy định tại Mục II Chương III Nghị định số 135/2004/NĐ-CP và hướng dẫn tại Mục I Chương III Thông tư này, trong đó lưu ý:
a) Không thực hiện việc khoán sản phẩm đối với người chưa thành niên;
b) Thời gian lao động trị liệu không được nhiều hơn thời gian học tập, chữa bệnh và không được quá 3 giờ một ngày.
2. Học viên là người chưa thành niên được khen thưởng bằng hình thức tăng số lần được thăm gặp thân nhân theo quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều 22 của Thông tư này thì mỗi lần khen thưởng được áp dụng trong vòng hai tháng.
3. Không áp dụng hình thức kỷ luật giáo dục tại phòng kỷ luật đối với người chưa thành niên.
Chế độ đối với người tự nguyện chữa trị, cai nghiện tại Trung tâm
Điều 27. Chế độ đối với người tự nguyện chữa trị, cai nghiện tại Trung tâm
1. Chế độ quản lý, cai nghiện, chữa trị cho người tự nguyện tại Trung tâm được thực hiện theo quy định tại Mục III Chương III Nghị định số 135/2004/NĐ-CP và các Điều 16, 17, 18, 19, 20, 21 và 22 của Thông tư này.
2. Học viên cai nghiện, chữa trị tự nguyện tại phải tuân theo chế độ lao động trị liệu của Trung tâm và không bị bắt buộc phải tham gia lao động sản xuất.
3. Học viên cai nghiện, chữa trị tự nguyện được thăm gặp vợ hoặc chồng tại phòng riêng theo hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 20 của Thông tư này nhưng không quá 2 lần trong một tháng.
4. Trường hợp học viên về nhà chịu tang, khi được tiếp nhận trở lại Trung tâm, phải chịu chi phí xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể do Trung tâm thực hiện.
5. Về chế độ khen thưởng, kỷ luật
a) Học viên được khen thưởng bằng hình thức tăng số lần được thăm gặp thân nhân theo quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều 22 của Thông tư này thì mỗi lần khen thưởng được áp dụng trong vòng hai tháng;
b) Hình thức kỷ luật giáo dục tại phòng kỷ luật không áp dụng đối với học viên tự nguyện cai nghiện, chữa trị tại Trung tâm. Thay vào đó, Giám đốc Trung tâm xem xét, chấm dứt việc cai nghiện, chữa trị và gửi thông báo về gia đình và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi học viên cư trú.
6. Khi hết thời hạn cai nghiện, chữa trị, Giám đốc Trung tâm cấp Giấy chứng nhận đã hoàn thành cai nghiện, chữa trị tự nguyện (Mẫu số 26) và gửi bản sao Giấy chứng nhận đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú và gia đình người đó.
Chương 4.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ HIỆU LỰC THI HÀNH