Điều 36 - Nguồn vốn đầu tư.
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm:
1. Vốn ngân sách Nhà nước,
2. Vốn tự có của các tổ chức sản xuất, kinh doanh hoặc các tổ chức xã hội,
3. Vốn vay của ngân hàng đầu tư và xây dựng.
Điều 37 - Sử dụng các nguồn vốn.
1. Vốn ngân sách Nhà nước dành để đầu tư cho:
- Các công trình sản xuất có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng lâu, công trình không có khả năng thu hồi vốn nhanh, công trình kinh tế kết hợp quốc phòng ....;
- Các công trình thuộc kết cấu hạ tầng;
- Các công trình không có tính chất sản xuất, kinh doanh của các đơn vị hành chính, sự nghiệp; công trình phục vụ lợi ích công cộng;
- Nhà ở cho các khu dân cư.
2 2. Vốn tự có được dùng để đầu tư cho:
- Xây dựng mới, cải tạo, mở rộng các công trình sản xuất, kinh doanh;
- Xây dựng thêm nhà ở cho công nhân và các công trình văn hoá, phúc lợi của bản thân thân xí nghiệp.
3. Vốn vay được dùng để:
- Đầu tư cho các công trình ngân sách Nhà nước không đầu tư mà vốn tự có không đủ;
- Chuẩn bị đầu tư;
- Đặt hàng sản xuất, chế tạo và vận chuyển, bảo quản thiết bị công nghệ, kể cả công trình do ngân sách Nhà nước cấp vốn đầu tư.
Điều 38 - Quản lý tổng dự toán.
1. Tổng dự toán của thiết kế kỹ thuật đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt là cơ sở để ghi vào kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Dự toán hạng mục công trình lập theo thiết kế bản vẽ thi công, bao gồm cả những khối lượng và chi phí tăng thêm hợp lý là căn cứ để thanh toán giữa chủ đầu tư và đơn vị nhận thầu xây lắp.
2. Trong tổng dự toán được phép ghi một khoản dự phòng bằng 10% vốn đầu tư để bảo đảm cho những khối lượng và chi phí tăng thêm không lường trước được. Nếu những khối lượng và chi phí tăng thêm hợp lý mà không vượt quá mức vốn dự phòng, thì được lấy vốn dự phòng để chi; trường hợp vượt quá mức vốn dự phòng quy định, thì chủ đầu tư phải làm thủ tục xin cấp có thẩm quyền bổ sung tổng dự toán.
3. Trường hợp vốn đầu tư vượt tổng dự toán đã được duyệt thì giải quyết như sau:
a) Chủ đầu tư phải báo cáo thuyết minh rõ lý do vượt vốn đầu tư để cơ quan có thẩm quyền xét duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật xét duyệt lại.
b) Uỷ ban Xây dựng cơ bản Nhà nước có nhiệm vụ thẩm tra trình Thủ tướng Chính phủ xét duyệt mức bổ sung tổng dự toán và kiểm tra việc xét duyệt vượt vốn đầu tư của các bộ và Uỷ ban nhân dân tỉnh.
c) Cơ quan quản lý xây dựng cơ bản thuộc các Bộ, các địa phương có nhiệm vụ giúp các cơ quan có thẩm quyền thẩm tra và xét duyệt lại các khoản đầu tư vượt tổng dự toán.
Điều 39 - Chế độ thanh toán sản phẩm xây lắp.
Việc thanh toán giữa chủ đầu tư và tổ chức nhận thầu xây lắp chỉ được tiến hành sau khi đã bàn giao xong các công trình hoặc hạng mục công trình. Đối với những công trình quy mô lớn, xây dựng trong nhiều năm, thì được thanh toán từng phần đã hoàn thành theo thời hạn huy động do tổng tiến độ quy định và đã được nghiệm thu giữa chủ đầu tư và tổ chức nhận thầu xây lắp.
Việc thanh toán được tiến hành theo biên bản của hội đồng nghiệm thu cơ sở.
Điều 40 - Chế độ thanh toán tiền thuê thiết kế.
Thực hiện việc thanh toán tiền thuê thiết kế theo giá thiết kế công trình. Sau khi đã nhận đủ hồ sơ thiết kế giao đúng hạn theo tiến độ ghi trong hợp đồng và đạt yêu cầu chất lượng, chủ đầu tư phải thanh toán tiền thuê thiết kế công trình cho tổ chức nhận thầu thiết kế, chỉ giữ lại 10% tiền thiết kế. Số tiền này sẽ được thanh toán khi tổ chức nhận thầu thiết kế đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình ghi trong hợp đồng kinh tế đã ký kết.
Điều 42 - Quyết toán giá trị công trình xây dựng cơ bản hoàn thành.
1. Khi công trình xây dựng cơ bản hoàn thành đã được nghiệm thu, bàn giao và đưa vào sản xuất, sử dụng, chủ đầu tư phải báo cáo quyết toán với chủ quản đầu tư và cơ quan cấp vốn đầu tư. Nếu là công trình áp dụng chế độ tổng nhận thầu xây dựng thì đơn vị tổng nhận thầu xây dựng làm báo cáo quyết toán với chủ đầu tư.
2. Báo cáo quyết toán phải xác định rõ giá trị tài sản cố định và năng lực sản xuất hoặc sử dụng mới tăng. Giá trị tài sản cố định và năng lực sản xuất, sử dụng mới tăng phải được xác định đúng đắn, hợp lý theo nguồn vốn và cơ cấu để chuyển giao cho cơ quan, đơn vị sử dụng.
Chậm nhất là 3 tháng sau khi kết thúc công việc xây lắp, chủ đầu tư phải hoàn thành báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
3. Chủ quản đầu tư phải xét duyệt quyết toán vốn đầu tư do chủ đầu tư lập và xác định giá trị tài sản cố định và năng lực sản xuất, sử dụng mới tăng thêm.
Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm kiểm tra và giải quyết những ý kiến khác nhau trong viêc xét duyệt quyết toán vốn đầu tư và xác định giá trị tài sản cố định của các Bộ, địa phương.
Chương 6:
THƯỞNG, PHẠT