法律人 LawPlayer logo

資料由法律人 LawPlayer整理提供·Pháp luật Việt Nam / LawPlayer, từ vbpl.vn (Bộ Tư pháp)

nghi-dinh

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự

Số hiệu
152/2026/NĐ-CP
Ngày ban hành
13 tháng 5, 2026
Số điều
117
Điều Lời mở đầu

CHÍNH PHỦ

_________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________________________________

Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2026

Số: 152/2026/NĐ-CP

NGHỊ ĐỊNH

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp

thi hành Luật Thi hành án dân sự.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1Phạm vi điều chỉnh

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết khoản 3 Điều 22, Điều 34, Điều 38, điểm a

khoản 1 Điều 49, khoản 3 Điều 49, Điều 50, Điều 51, khoản 9 Điều 53, khoản 6 và

khoản 7 Điều 54, khoản 3 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 61,

khoản 2 Điều 67, khoản 3 Điều 70, khoản 5 Điều 72, khoản 5 Điều 76, Điều 78,

điểm c khoản 2 Điều 82, Điều 84, khoản 2 Điều 85, điểm b khoản 1 Điều 86,

khoản 1 Điều 87, khoản 2 Điều 89, khoản 6 Điều 95; nội dung về chi phí, kinh

phí trong hoạt động thi hành án quy định tại Điều 9; biện pháp để tổ chức,

hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự, giải

quyết khiếu nại, tố cáo, bảo đảm tài chính từ ngân sách để thi hành án, nhiệm

vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân sự.

Điều 2Đại diện trong thi hành án dân sự

Điều 2. Đại diện trong thi hành án dân sự

1. Người đại diện cho đương sự trong thi hành án dân sự bao gồm người

đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể

là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự.

2. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, ghi rõ phạm vi, thời hạn và

nội dung ủy quyền trong giai đoạn thi hành án dân sự, có công chứng hoặc

chứng thực; trường hợp việc ủy quyền được thực hiện tại cơ quan thi hành án

dân sự thì văn bản ủy quyền phải có xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự;

trường hợp ủy quyền của pháp nhân thì văn bản ủy quyền phải do người đại

diện hợp pháp ký và đóng dấu của pháp nhân đó; trường hợp đương sự đang

chấp hành hình phạt tù thì văn bản ủy quyền phải có xác nhận của trại giam,

trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành

án hình sự cấp quân khu.

Từ thời điểm nhận được văn bản uỷ quyền, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp

hành viên thực hiện thông báo, các thủ tục thi hành án, giải quyết khiếu nại, kiến

nghị, phản ánh về vụ việc đang được thi hành án với người đại diện theo nội dung,

thời hạn, phạm vi ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Khi chấm dứt hoặc thay đổi việc ủy quyền trước thời hạn ủy quyền thì

người ủy quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan thi hành án dân sự.

3. Trường hợp đương sự ủy quyền cho nhiều người về cùng một nội dung

thì cơ quan thi hành án dân sự hướng dẫn đương sự xác định người được ủy

quyền làm việc với cơ quan thi hành án dân sự theo khoản 2 Điều này; trường

hợp đương sự không xác định người được ủy quyền thì cơ quan thi hành án dân

sự làm việc với một trong số những người được ủy quyền.

4. Việc ủy quyền khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thực hiện theo

quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Điều 3Tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan, sự kiện bất khả

Điều 3. Tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan, sự kiện bất khả

kháng trong thi hành án dân sự

1. Tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng

mà đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn quy định tại khoản 2

Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tình trạng khẩn cấp được xác định theo quy định của Luật Tình trạng

khẩn cấp;

b) Trở ngại khách quan là trường hợp đương sự không nhận được bản án,

quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới,

hải đảo hoặc phải thực hiện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

mà không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn; đương sự bị tai nạn, ốm nặng đến

mức mất khả năng nhận thức hoặc chết mà chưa xác định được người thừa kế;

tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại,

chuyển đổi hình thức, chuyển giao bắt buộc, chuyển nhượng toàn bộ cổ phần,

phần vốn góp mà chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu thi

hành án hoặc do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan, cá

nhân khác dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn;

c) Sự kiện bất khả kháng là trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh mà

không thuộc trường hợp tình trạng khẩn cấp quy định tại điểm a khoản này.

2. Tài liệu chứng minh xảy ra tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan, sự

kiện bất khả kháng là bản gốc hoặc bản sao có chứng thực hoặc dữ liệu điện tử,

bao gồm:

a) Đối với trường hợp xảy ra tình trạng khẩn cấp thì tài liệu chứng minh là

văn bản của cơ quan có thẩm quyền ban bố, công bố theo quy định của Luật

Tình trạng khẩn cấp;

b) Đối với trường hợp xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng

hoặc đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế hoặc trở ngại khách

quan xảy ra tại địa phương nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải

có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú cuối cùng hoặc

nơi cư trú khi xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại

khách quan, trừ trường hợp quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản này;

c) Đối với trường hợp tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức

nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có hồ sơ bệnh án hoặc bản

sao hồ sơ bệnh án có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở

lên và tài liệu kèm theo, nếu có;

d) Đối với trường hợp do yêu cầu công tác nên không thể yêu cầu thi hành

án đúng hạn thì phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc giấy cử

đi công tác của cơ quan, đơn vị đó;

đ) Đối với trường hợp do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án nên

không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của cơ quan đã ra

bản án, quyết định, cơ quan thi hành án có thẩm quyền;

e) Đối với trường hợp hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, kết thúc hoạt

động, sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức, chuyển giao bắt buộc, chuyển nhượng

toàn bộ cổ phần, phần vốn góp thì phải có văn bản hợp pháp chứng minh thời

gian chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu thi hành án;

g) Đối với các trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan khác dẫn

đến không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của cơ quan

có thẩm quyền hoặc tài liệu hợp pháp khác để chứng minh.

3. Xác nhận của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thể hiện rõ địa điểm,

nội dung và thời gian xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc

trở ngại khách quan dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án

đúng hạn.

4. Quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được áp dụng để xác định

tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng trong các

trường hợp khác quy định tại Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.

Điều 4Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự

Điều 4. Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự

1. Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ

liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và

cơ sở dữ liệu khác. Việc kết nối, chia sẻ được thực hiện theo quy định của pháp

luật về dữ liệu, giao dịch điện tử và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và bảo

vệ dữ liệu cá nhân.

2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành danh mục, định dạng dữ liệu và yêu

cầu kỹ thuật bảo đảm kết nối, chia sẻ giữa Cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự

với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu

chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.

3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp

tỉnh chỉ đạo việc xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu thuộc quyền quản lý để bảo

đảm việc kết nối, chia sẻ dữ liệu, phục vụ công tác thi hành án dân sự theo

hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

Điều 5Môi trường số trong thi hành án dân sự

Điều 5. Môi trường số trong thi hành án dân sự

1. Các phương tiện thực hiện trên môi trường số trong thi hành án dân sự

bao gồm:

a) Nền tảng số thi hành án dân sự;

b) Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành

chính tập trung của Bộ Tư pháp;

c) Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID);

d) Cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thi hành án dân sự,

cơ quan thi hành án dân sự;

đ) Thư điện tử và phương tiện khác theo quy định của pháp luật.

2. Tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan thi hành án dân sự sử dụng một

hoặc nhiều phương tiện quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 6Nền tảng số thi hành án dân sự

Điều 6. Nền tảng số thi hành án dân sự

1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng, quản lý, vận hành nền tảng số thi

hành án dân sự phục vụ hoạt động thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành

chính, quản lý tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên.

Việc xây dựng, vận hành nền tảng số thi hành án dân sự được thực hiện

thông qua đầu tư, thuê dịch vụ công nghệ thông tin, thuê phần mềm, thuê nền

tảng số, thuê theo số lượng tài khoản người dùng hoặc các hình thức khác theo

quy định của pháp luật.

2. Nền tảng số thi hành án dân sự được triển khai tập trung, thống nhất,

bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu, hình thành cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự

phục vụ hoạt động của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp,

cơ quan thi hành án dân sự, Thừa hành viên.

3. Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều này được bảo đảm

từ ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Việc quản lý, sử

dụng kinh phí thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước,

đầu tư công, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp

công nghệ số và pháp luật khác có liên quan.

Chương II

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Mục 1

THỦ TỤC CHUNG

Điều 7Giao, nhận bản án, quyết định

Điều 7. Giao, nhận bản án, quyết định

1. Việc giao, nhận bản án, quyết định được thực hiện trực tiếp, trên môi

trường số hoặc thông qua dịch vụ bưu chính.

2. Trường hợp bản án, quyết định được gửi trên môi trường số thì thời

điểm xác định cơ quan thi hành án dân sự nhận bản án, quyết định là thời điểm

phương tiện điện tử ghi nhận việc tiếp nhận thành công các dữ liệu đầy đủ và

hợp lệ theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

3. Trường hợp nhận trực tiếp bản án, quyết định hoặc thông qua dịch vụ

bưu chính thì việc giao, nhận phải có chữ ký của bên giao, bên nhận trong sổ

nhận bản án, quyết định; thời điểm nhận bản án, quyết định là ngày cơ quan thi

hành án dân sự ký nhận.

4. Khi nhận bản án, quyết định, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra,

vào sổ nhận bản án, quyết định.

Sổ nhận bản án, quyết định phải thể hiện số thứ tự; ngày, tháng, năm, hình

thức nhận bản án, quyết định; số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định và

tên cơ quan ra bản án, quyết định; tên, địa chỉ của đương sự và tài liệu khác có

liên quan.

Điều 8Chủ động ra quyết định thi hành án

Điều 8. Chủ động ra quyết định thi hành án

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra một quyết định thi

hành án đối với mỗi người phải thi hành án, trừ các trường hợp sau đây:

a) Trả lại tiền, tài sản thì ra một quyết định thi hành án đối với người được

trả lại tiền, tài sản đó;

b) Thi hành khoản tịch thu, sung quỹ nhà nước, tiêu hủy vật chứng, tài sản

tạm giữ mà không xác định người phải thi hành án thì ra một quyết định thi

hành án đối với các khoản đó;

c) Các khoản phải thi hành quy định tại điểm a và điểm b khoản này có

liên quan đến cùng một vật chứng, tài sản tạm giữ thì ra chung một quyết định

thi hành án liên quan đến vật chứng, tài sản đó;

d) Thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới hoặc nghĩa vụ chung thì ra một quyết

định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ;

đ) Một người vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ thì ra một quyết định thi hành

án đối với người đó;

e) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Các khoản thu khác cho Nhà nước thuộc diện cơ quan thi hành án dân

sự chủ động ra quyết định thi hành án quy định tại điểm c khoản 2 Điều 33 của

Luật Thi hành án dân sự bao gồm: khoản truy thu thuế; khoản viện trợ cho Nhà

nước; khoản bồi thường cho Nhà nước, cơ quan Nhà nước hoặc doanh nghiệp

do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ trong các vụ án xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế, tham nhũng; khoản thu nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước.

3. Đối với bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án hành chính, Thủ trưởng

cơ quan thi hành án dân sự chỉ thụ lý và ra quyết định thi hành án đối với phần

nghĩa vụ về tài sản, gồm: án phí; bồi thường thiệt hại; trả lại tiền, tài sản; giao lại

đất được tuyên cụ thể trong bản án, quyết định của Tòa án. Những nội dung khác

của bản án, quyết định được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng

hành chính.

4. Trường hợp bản án, quyết định tuyên xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ để

bảo đảm thi hành án mà không tuyên để bảo đảm cho một nghĩa vụ cụ thể thì nội

dung xử lý vật chứng, tài sản đó được đưa vào quyết định thi hành án chủ động,

trừ trường hợp đã có quyết định thi hành án theo yêu cầu đối với nội dung này.

Trường hợp bản án, quyết định chỉ có nội dung tuyên hủy bỏ lệnh hoặc

quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời trước đó

của cơ quan có thẩm quyền thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động

ra quyết định thi hành án theo nội dung bản án, quyết định và thực hiện theo

quy định tại khoản 1 Điều 62 của Luật Thi hành án dân sự.

Điều 9Yêu cầu thi hành án

Điều 9. Yêu cầu thi hành án

1. Đương sự thực hiện việc yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án

dân sự có thẩm quyền bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Gửi yêu cầu trên môi trường số qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ

thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ Tư pháp, ứng

dụng VNeID hoặc phương tiện điện tử khác theo quy định của pháp luật;

b) Trực tiếp nộp đơn yêu cầu hoặc trình bày bằng lời nói. Trường hợp trình

bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản có các nội

dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của người lập biên bản, chữ ký

hoặc điểm chỉ của người yêu cầu; biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu;

c) Gửi đơn yêu cầu qua dịch vụ bưu chính;

d) Hình thức khác theo quy định của pháp luật.

2. Yêu cầu thi hành án phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Thông tin của người yêu cầu, người được thi hành án, người phải thi

hành án, bao gồm: họ, tên; địa chỉ; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân,

số định danh cơ quan, tổ chức; mã số doanh nghiệp, hợp tác xã, số điện thoại

(nếu có);

b) Ngày, tháng, năm yêu cầu thi hành án;

c) Tên cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu;

d) Số, ngày, tháng, năm, cơ quan ra bản án, quyết định;

đ) Các khoản yêu cầu thi hành;

e) Thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án

(nếu có);

g) Trường hợp người yêu cầu là người được thi hành án thì ghi rõ số tài

khoản ngân hàng để nhận tiền (nếu có);

h) Trường hợp yêu cầu thi hành án bằng hình thức quy định tại điểm a

khoản 1 Điều này thì phải thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền

về hình thức yêu cầu trên phương tiện đó; trường hợp yêu cầu thi hành án bằng

hình thức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này thì phải có chữ ký

hoặc điểm chỉ của người yêu cầu; nếu là pháp nhân thì phải có chữ ký của người

đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân đó;

i) Bản án, quyết định; tài liệu liên quan (nếu có). Trường hợp yêu cầu thi

hành phán quyết trọng tài thì phải cung cấp thông tin, tài liệu về việc Tòa án

thụ lý đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài hoặc việc đăng ký phán quyết trọng

tài vụ việc hoặc thông tin, tài liệu khác chứng minh giá trị áp dụng, hiệu lực thi

hành của phán quyết trọng tài theo quy định.

3. Ngày yêu cầu thi hành án là ngày gửi yêu cầu thành công trên các

phương tiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; ngày cơ quan thi hành án

dân sự nhận đơn hoặc lập biên bản trong trường hợp quy định tại điểm b khoản

1 Điều này hoặc ngày được ghi trên dấu của doanh nghiệp bưu chính nơi gửi

trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.

4. Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải cấp

phiếu nhận yêu cầu. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ vào sổ nhận yêu cầu thi

hành án khi nội dung yêu cầu thi hành án và các tài liệu kèm theo chính xác,

đầy đủ theo quy định.

5. Trường hợp bản án, quyết định tuyên thực hiện nghĩa vụ thi hành theo

định kỳ hoặc theo các thời hạn khác nhau thì khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án

đối với các kỳ tiếp theo, cơ quan thi hành án dân sự khai thác bản án, quyết

định đã tiếp nhận để ra quyết định thi hành án và lập hồ sơ thi hành án, tổ chức

thi hành án theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp nội dung yêu cầu thi hành án và các tài liệu kèm theo chưa

chính xác, chưa đầy đủ thì trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận

yêu cầu, cơ quan thi hành án dân sự thông báo để người yêu cầu sửa đổi hoặc

cung cấp bổ sung.

7. Cơ quan thi hành án dân sự không được từ chối yêu cầu thi hành án

trong các trường hợp sau đây:

a) Giao quyền sở hữu, sử dụng, quản lý tài sản mà tại thời điểm yêu cầu

thi hành án, người được thi hành án không được trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản;

b) Giao quyền nuôi dưỡng người chưa thành niên mà tại thời điểm yêu cầu

thi hành án, người được thi hành án không được trực tiếp nuôi dưỡng;

c) Giao quyền thăm nom, chăm sóc người chưa thành niên, người mất năng

lực hành vi dân sự, người không có khả năng lao động mà tại thời điểm yêu cầu

thi hành án, người được thi hành án không trực tiếp nuôi dưỡng, thăm nom,

chăm sóc;

d) Nội dung yêu cầu đã được cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi

hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự.

8. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật

mà cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được thi hành án đối với khoản tiền, tài sản

thuộc sở hữu nhà nước không yêu cầu thi hành án thì cơ quan, tổ chức quản lý

trực tiếp hoặc cơ quan đại diện chủ sở hữu của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

đó có trách nhiệm chỉ đạo việc yêu cầu thi hành án.

Điều 10Thời hiệu yêu cầu thi hành án

Điều 10. Thời hiệu yêu cầu thi hành án

1. Đối với bản án, quyết định tuyên nghĩa vụ thi hành theo định kỳ hoặc theo

thời hạn thì thời hiệu yêu cầu thi hành án được áp dụng cho từng định kỳ hoặc từng

thời hạn kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

2. Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại

khách quan dẫn đến việc không thể yêu cầu thi hành án trong thời hiệu thì

đương sự có quyền đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm

quyền xem xét, quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu

thi hành án quá hạn.

Việc yêu cầu thi hành án quá hạn được thực hiện theo quy định tại Điều 9

Nghị định này, nêu rõ lý do, kèm theo bản gốc hoặc bản sao có chứng thực hoặc

dữ liệu điện tử các tài liệu chứng minh quy định tại Điều 3 Nghị định này về lý

do không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn để đối chiếu.

3. Trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc

người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi

hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự

không ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án mà chỉ ra quyết

định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp; lập biên

bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do người phải thi hành án, người được ủy quyền

hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thi hành án đến nhận.

Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà người được thi

hành án không đến nhận tiền, tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục

sung quỹ nhà nước, sau khi khấu trừ tiền, xử lý tài sản để thi hành nghĩa vụ mà

họ phải thi hành theo quyết định thi hành án khác, nếu có.

Điều 11Ra quyết định thi hành án theo yêu cầu

Điều 11. Ra quyết định thi hành án theo yêu cầu

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án

theo yêu cầu đối với mỗi người phải thi hành án, trừ các trường hợp sau đây:

a) Bản án, quyết định tuyên nhiều người được nhận chung một tài sản, một

khoản tiền cụ thể; chia tài sản chung, chia thừa kế, chia tài sản trong ly hôn

hoặc tuyên các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản nhưng chỉ có

một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì ra một quyết định thi hành án

theo nội dung bản án, quyết định;

b) Thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới thì ra một quyết định thi hành án

chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới. Trường hợp người phải

thi hành án yêu cầu thi hành án và tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án thì ra

một quyết định thi hành án đối với người phải thi hành án tương ứng với khoản

tiền, tài sản họ tự nguyện nộp. Người phải thi hành án vẫn có trách nhiệm liên

đới thi hành nghĩa vụ còn lại theo bản án, quyết định.

2. Đối với bản án, quyết định có ấn định một thời hạn cụ thể để thực hiện

toàn bộ nghĩa vụ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định

thi hành án khi nghĩa vụ đã đến hạn, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận

khác. Đối với bản án, quyết định ấn định nghĩa vụ được thực hiện theo nhiều

thời hạn khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định

thi hành án đối với những nghĩa vụ đã đến hạn.

Đối với bản án, quyết định về cấp dưỡng theo định kỳ hằng tháng, quý thì

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án đối với

những nghĩa vụ đã đến hạn hoặc sẽ đến hạn trong năm thi hành án. Quá trình

thi hành án, người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện các nghĩa vụ đến hạn trừ

trường hợp người có nghĩa vụ tự nguyện thi hành cả nghĩa vụ chưa đến hạn.

Khi có bản án, quyết định của Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự về thay

đổi mức cấp dưỡng mà vụ việc đang được cơ quan thi hành án dân sự tổ chức

thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết

định thi hành án đã ban hành và ra quyết định thi hành án theo mức cấp dưỡng

mới. Việc thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện bắt đầu từ thời điểm được

xác định tại bản án, quyết định mới của Tòa án, trừ trường hợp các bên có thỏa

thuận khác.

Trường hợp các đương sự thỏa thuận về việc thi hành một lần đối với toàn

bộ nghĩa vụ theo định kỳ hoặc theo nhiều thời hạn khác nhau thì Thủ trưởng cơ

quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án cho toàn bộ nghĩa vụ.

Trường hợp thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ hoặc theo thời hạn

mà cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác thi hành án thì cơ quan thi hành án

dân sự nhận ủy thác có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đối với các kỳ,

thời hạn tiếp theo.

3. Việc ra quyết định thi hành án đối với bản án, quyết định của Tòa án trong

vụ án hành chính thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định này.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa

án về việc không tiếp tục tạm đình chỉ thi hành quyết định công nhận và cho thi

hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án

dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án.

Điều 12Quyết định thi hành án, hồ sơ thi hành án

Điều 12. Quyết định thi hành án, hồ sơ thi hành án

1. Quyết định thi hành án phải có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, chức vụ của người ra quyết định;

b) Số, ngày, tháng, năm, tên cơ quan ra bản án, quyết định;

c) Tên, địa chỉ của người được thi hành án, người phải thi hành án và số

định danh cá nhân, số định danh của cơ quan, tổ chức, mã số doanh nghiệp, hợp

tác xã (nếu có);

d) Nghĩa vụ phải thi hành;

đ) Thời hạn tự nguyện thi hành án;

e) Chỉ dẫn để nộp tiền thi hành án (nếu có), hình thức thông báo thi hành án;

g) Nội dung khác có liên quan.

2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Chấp hành

viên lập hồ sơ thi hành án.

Quyết định thi hành án, quyết định xử lý tài sản ủy thác là căn cứ để lập

hồ sơ thi hành án. Mỗi quyết định thi hành án hoặc mỗi quyết định xử lý tài sản

ủy thác lập thành một hồ sơ thi hành án.

Hồ sơ thi hành án phải thể hiện toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án, quá

trình xử lý tài sản ủy thác của Chấp hành viên, lưu giữ tất cả các tài liệu đã,

đang thực hiện và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ. Hồ sơ

thi hành án được thể hiện dưới dạng hồ sơ giấy hoặc hồ sơ điện tử theo quy

định của pháp luật.

Điều 13Thay đổi Chấp hành viên

Điều 13. Thay đổi Chấp hành viên

1. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp

sau đây:

a) Có căn cứ cho rằng Chấp hành viên thực hiện các hành vi bị nghiêm

cấm quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Thi hành án dân sự;

b) Chấp hành viên đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của đương sự, người làm chứng trong cùng vụ án đó.

2. Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên phải gửi Thủ trưởng cơ quan thi hành

án dân sự đang thụ lý vụ việc, nêu rõ lý do và căn cứ của việc yêu cầu thay đổi

Chấp hành viên.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thay đổi

Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét, quyết định việc

thay đổi Chấp hành viên; trường hợp không thay đổi Chấp hành viên thì trả lời

bằng văn bản cho người đã có yêu cầu thay đổi Chấp hành viên và nêu rõ lý do.

Điều 14Thỏa thuận thi hành án

Điều 14. Thỏa thuận thi hành án

1. Trường hợp đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã

yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án thì

thỏa thuận đó phải lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa

thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có

nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận.

Trường hợp các bên không thực hiện đúng thỏa thuận mà thời hiệu yêu

cầu thi hành án vẫn còn thì có quyền yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ

chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

2. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án,

đương sự vẫn có quyền thỏa thuận thi hành án. Việc thoả thuận về thi hành án

phải có sự tham gia của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

nội dung thỏa thuận. Trường hợp đương sự thỏa thuận về việc đình chỉ thi hành

án sau thời điểm tài sản đã được đấu giá thành hoặc đã bán cho chủ sở hữu

chung, người được quyền ưu tiên mua hoặc người được thi hành án đã đồng ý

nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án mà chưa giao được tài sản cho họ thì

việc thỏa thuận còn phải được sự đồng ý của người trúng đấu giá, người mua

tài sản hoặc người nhận tài sản.

3. Văn bản thỏa thuận về thi hành án phải được gửi cho Chấp hành viên.

Khi đương sự có yêu cầu, Chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận về thi

hành án và ký tên vào văn bản thỏa thuận.

Đương sự phải chịu trách nhiệm về nội dung thỏa thuận không vi phạm

điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng

đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc

nhằm trốn tránh phí thi hành án.

Trường hợp phát hiện thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã

hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của

người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án hoặc không đúng thành phần

thì Chấp hành viên có quyền không công nhận thỏa thuận hoặc từ chối chứng kiến

thỏa thuận nhưng phải nêu rõ lý do và tiếp tục tổ chức thi hành án theo quy định.

Việc chứng kiến thỏa thuận được thực hiện tại trụ sở cơ quan thi hành án dân

sự. Đối với các trường hợp thỏa thuận giao quyền sử dụng đất, giao nhà, tài sản

gắn liền với đất; giao quyền nuôi dưỡng người chưa thành niên; giao quyền thăm

nom, chăm sóc người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người

không có khả năng lao động hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật thì

Chấp hành viên chứng kiến ngoài trụ sở cơ quan nếu đương sự yêu cầu.

4. Trường hợp các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã

thỏa thuận thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ nội dung quyết định thi hành án

và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành.

5. Trường hợp đương sự thỏa thuận hoặc người được thi hành án yêu cầu

đình chỉ một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án thì cơ quan thi hành án

dân sự chỉ ra quyết định đình chỉ thi hành án sau khi các đương sự đã nộp các

khoản phí, chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật tính đến thời điểm

thỏa thuận hoặc yêu cầu đình chỉ.

6. Trường hợp người phải thi hành án thỏa thuận với người được thi hành

án về việc giao tài sản cho người được thi hành án để trừ vào tiền thi hành án

thì Chấp hành viên lập biên bản về việc giao tài sản. Biên bản này là cơ sở để

Chấp hành viên giao tài sản theo thỏa thuận và xác định thứ tự ưu tiên thanh

toán. Chi phí giao tài sản và các chi phí cần thiết khác theo quy định của pháp

luật do người phải thi hành án chịu.

Điều 15Thông báo thi hành án trên môi trường số

Điều 15. Thông báo thi hành án trên môi trường số

1. Thông báo về thi hành án được thực hiện trên môi trường số, trừ trường

hợp quy định tại các Điều 16, 17, 18 và 19 Nghị định này.

2. Thông báo trên môi trường số được thực hiện thông qua ứng dụng

VNeID. Ngày ứng dụng VNeID báo đã gửi là ngày thông báo hợp lệ.

3. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm truy

cập ứng dụng VNeID để nhận thông báo về thi hành án và thực hiện quyền,

nghĩa vụ của mình.

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có trách nhiệm tích hợp,

bảo mật, kết nối và chia sẻ các thông báo về thi hành án trên ứng dụng VNeID.

5. Trường hợp đương sự đề nghị thông báo trên phương tiện điện tử khác

thì cơ quan thi hành án dân sự có thể thông báo đồng thời trên phương tiện đó.

Điều 16Thông báo thi hành án qua văn phòng thi hành án dân sự

Điều 16. Thông báo thi hành án qua văn phòng thi hành án dân sự

hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc

cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo

1. Thông báo qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu

chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao

trực tiếp cho người được thông báo khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không xác định được số định danh của người được thông báo nhưng

xác định được địa chỉ của người đó;

b) Thông báo quyết định thi hành án, trừ trường hợp quy định tại Điều 18

và Điều 19 Nghị định này;

c) Người được thông báo chứng minh không thể tiếp cận việc thông báo

trên môi trường số;

d) Người được thông báo có yêu cầu và chịu chi phí.

2. Người trực tiếp thực hiện việc thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều

này, bao gồm:

a) Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án;

b) Nhân viên bưu chính; Thừa hành viên; người được cơ quan thi hành án

dân sự ủy quyền; tổ trưởng tổ dân phố; trưởng khu phố, trưởng thôn, làng, ấp,

bản, khóm, buôn, phum, sóc; công chức, công an cấp xã hoặc Thủ trưởng cơ

quan, đơn vị nơi người được thông báo có địa chỉ, cư trú, công tác.

3. Khi thông báo trực tiếp cho cá nhân, văn bản thông báo phải được giao

trực tiếp cho người đó.

Trường hợp người được thông báo vắng mặt thì văn bản thông báo được

giao cho một trong số những người có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú

với người đó. Người thông báo phải lập biên bản ghi rõ họ tên của người nhận

thay; ngày, giờ nhận thay; quan hệ giữa họ với người được thông báo; cam kết

giao tận tay hoặc thông báo ngay cho người được thông báo. Biên bản có chữ

ký của người nhận và người giao thông báo. Ngày lập biên bản là ngày được

thông báo hợp lệ.

Trường hợp người được thông báo không có người có đủ năng lực hành vi

dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo

hoặc người được thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về thì người

thực hiện thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được thông báo,

có chữ ký của người chứng kiến và thực hiện việc niêm yết công khai theo quy

định tại Điều 17 Nghị định này.

Trường hợp người được thông báo đã chuyển đến địa chỉ mới và cung cấp

địa chỉ mới cho cơ quan thi hành án dân sự thì thông báo theo địa chỉ mới của

người được thông báo. Trường hợp người được thông báo không cung cấp địa

chỉ mới cho cơ quan thi hành án dân sự thì việc thông báo theo địa chỉ xác định

trước đó được coi là hợp lệ.

4. Khi thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức, văn bản thông báo phải

được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách

nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký

nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được thông báo có người đại diện tham gia

việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận văn bản thông báo thì những người

này ký nhận văn bản thông báo. Ngày ký nhận là ngày được thông báo hợp lệ.

5. Địa chỉ gửi qua dịch vụ bưu chính và địa chỉ giao trực tiếp là địa chỉ của

người được thông báo theo bản án, quyết định; theo kết quả xác minh hoặc do

đương sự cung cấp.

6. Việc thông báo phải lập thành biên bản. Trường hợp người nhận thông báo

từ chối, không ký nhận hoặc điểm chỉ thì nội dung này phải được ghi vào biên bản,

có chữ ký của người chứng kiến. Ngày lập biên bản là ngày thông báo hợp lệ.

7. Người trực tiếp thực hiện việc thông báo quy định tại khoản 2 Điều này

phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện thủ tục thông báo theo

quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Điều 17Niêm yết công khai

Điều 17. Niêm yết công khai

1. Việc niêm yết công khai văn bản thông báo khi thuộc một trong các

trường hợp sau đây:

a) Không xác định được số định danh của người được thông báo và không

rõ địa chỉ của người được thông báo;

b) Không thực hiện được thông báo theo quy định tại khoản 3 Điều 16

Nghị định này;

c) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Văn bản thông báo được niêm yết tại các địa điểm sau đây:

a) Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc trụ sở khu phố, tổ dân phố, trụ sở nhà văn

hóa thôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum, sóc nơi người được thông báo cư

trú, có trụ sở hoặc cư trú, có trụ sở cuối cùng; trường hợp không xác định được

nơi người được thông báo cư trú, có trụ sở hoặc cư trú, có trụ sở cuối cùng thì

niêm yết tại cơ quan thi hành án dân sự;

b) Nơi cư trú, có trụ sở hoặc nơi cư trú, có trụ sở cuối cùng của người được

thông báo (nếu có).

3. Việc niêm yết công khai phải lập thành biên bản, ghi rõ ngày, tháng,

năm niêm yết; số, ngày, tháng, năm, tên của văn bản thông báo; có chữ ký của

người chứng kiến.

Ngày niêm yết là ngày thông báo hợp lệ. Thời hạn niêm yết công khai văn

bản thông báo là 07 ngày kể từ ngày niêm yết.

Điều 18Thông báo thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng

Điều 18. Thông báo thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng

1. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi

thông báo quyết định thi hành án trong vụ việc có nhiều đương sự do Thủ

trưởng cơ quan thi hành án dân sự quyết định; trường hợp pháp luật có quy định

hoặc khi người được thông báo có yêu cầu và chịu chi phí.

Ngoài ra, việc thông báo thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng có

thể được công khai trên Trang thông tin điện tử của cơ quan thi hành án dân sự.

2. Trường hợp xác định được người được thông báo đang có mặt tại địa

phương nơi cư trú, có trụ sở thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày

trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của tỉnh, thành

phố của địa phương đó hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

Trường hợp xác định được người được thông báo không có mặt tại địa

phương nơi cư trú, có trụ sở hoặc không xác định được người được thông báo

đang có mặt tại địa phương nơi cư trú, có trụ sở thì việc thông báo được thực

hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền

hình của trung ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

3. Ngày thực hiện việc thông báo lần hai trên phương tiện thông tin đại

chúng là ngày được thông báo hợp lệ.

Điều 19Thông báo trong trường hợp xác định được địa chỉ của người

Điều 19. Thông báo trong trường hợp xác định được địa chỉ của người

được thông báo ở nước ngoài

1. Trường hợp người được thông báo không ở Việt Nam mà xác định được

địa chỉ của họ ở nước ngoài thì việc thông báo quyết định thi hành án được thực

hiện trên môi trường số, đồng thời thông báo theo một trong các hình thức quy

định tại các điểm b, c, d và đ khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự.

Thời điểm thông báo hợp lệ thực hiện theo quy định tại các Điều 15, 16 và 18

Nghị định này.

Từ lần thông báo thứ hai trở đi, cơ quan thi hành án dân sự lựa chọn một

trong các hình thức quy định tại khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự

để thực hiện.

2. Trường hợp thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự thì hết thời hạn 03

tháng kể từ ngày Bộ Tư pháp gửi hồ sơ tương trợ tư pháp hợp lệ cho cơ quan

có thẩm quyền ở nước ngoài mà không có kết quả, cơ quan thi hành án dân sự

có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp đôn đốc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

thực hiện việc tương trợ tư pháp về dân sự.

Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày Bộ Tư pháp gửi hồ sơ tương trợ tư

pháp hợp lệ cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà nhận được đủ kết quả

theo yêu cầu thì ngày nhận được kết quả là ngày thông báo hợp lệ. Trình tự, thủ

tục yêu cầu thực hiện tương trợ tư pháp thực hiện theo quy định của điều ước

quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật về tương trợ tư pháp về dân sự.

3. Trường hợp hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày Bộ Tư pháp gửi hồ sơ

tương trợ tư pháp hợp lệ cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không

nhận được đủ kết quả theo yêu cầu hoặc có thông báo về việc không thực hiện

được việc tương trợ tư pháp hoặc không thực hiện được việc thông báo theo

quy định tại các điểm c, d và đ khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự

thì việc thông báo được thực hiện trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Ngày đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp là ngày thông báo

hợp lệ.

Điều 20Gửi, nhận văn bản về thi hành án

Điều 20. Gửi, nhận văn bản về thi hành án

1. Việc gửi, nhận văn bản, hồ sơ, tài liệu liên quan đến thi hành án dân sự

được thực hiện trên môi trường số. Trường hợp cơ sở dữ liệu về thi hành án

dân sự đã kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu khác thì việc gửi, nhận văn bản,

hồ sơ, tài liệu có thể được thực hiện bằng thông điệp dữ liệu theo quy định của

pháp luật về giao dịch điện tử.

2. Trường hợp không gửi, nhận được văn bản, hồ sơ, tài liệu trên môi

trường số thì thực hiện như sau:

a) Các quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi

hành án được gửi qua dịch vụ bưu chính dưới hình thức chuyển phát nhanh, có báo

phát hoặc do Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án giao trực tiếp;

b) Các văn bản, hồ sơ, tài liệu khác được thực hiện qua dịch vụ bưu chính

hoặc được giao trực tiếp.

3. Trường hợp Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án giao

trực tiếp văn bản, hồ sơ, tài liệu cho người đại diện theo pháp luật hoặc người

chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức thì việc giao, nhận phải

được lập thành biên bản, có chữ ký của Chấp hành viên, công chức làm công

tác thi hành án và người nhận; trường hợp người nhận không ký hoặc không nhận

thì nội dung này phải được ghi vào biên bản, có chữ ký của người chứng kiến.

Điều 21Xác minh điều kiện thi hành án

Điều 21. Xác minh điều kiện thi hành án

1. Khi xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên xác minh cụ thể

thông tin về tài sản, thu nhập; số định danh cá nhân, tình trạng hôn nhân; số

định danh của cơ quan, tổ chức, mã số doanh nghiệp, hợp tác xã; trụ sở, nơi

thường trú, nơi tạm trú, nơi ở hiện tại và các thông tin cần thiết khác về điều

kiện thi hành án.

2. Việc xác minh trên môi trường số được thực hiện thông qua nền tảng số

thi hành án dân sự, cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự được kết nối với các Cơ

sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành

và cơ sở dữ liệu khác hoặc phương tiện điện tử khác theo quy định của pháp luật.

3. Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng; tài sản mà pháp

luật quy định về điều kiện chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng thì Chấp

hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền có ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử

dụng đất; điều kiện thực hiện quyền của người sở hữu, sử dụng tài sản và điều

kiện nhận chuyển nhượng quyền sở hữu, sử dụng tài sản.

Đối với tài sản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc tài sản khác mà thuộc trường

hợp được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật thì Chấp hành viên

đề nghị cơ quan quản lý đất đai, cơ quan khác có thẩm quyền có ý kiến về quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất, quyền sở hữu tài sản.

4. Khi xác minh trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã thì đơn vị, tổ chức

chuyên môn, công chức thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã và cá nhân có liên quan

phải thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên, chịu trách nhiệm về các nội dung

thông tin đã cung cấp và ký, đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc của

đơn vị, tổ chức vào biên bản xác minh.

Khi có thông tin về việc người phải thi hành án mở tài khoản, gửi tiền, tài

sản gửi giữ khác tại Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng

nước ngoài thì Chấp hành viên có văn bản gửi cơ quan, tổ chức đó để đề nghị

cung cấp thông tin. Cơ quan, tổ chức được đề nghị phải cung cấp ngay thông

tin theo yêu cầu của Chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm về nội dung thông

tin cung cấp.

Khi xác minh tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Chấp

hành viên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cho sử dụng

lối đi qua hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh.

Khi xác minh điều kiện thi hành án đối với đương sự đang chấp hành hình

phạt tù, Chấp hành viên có thể xác minh trực tiếp tại trại giam, trại tạm giam,

cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự

cấp quân khu nơi đương sự đang chấp hành hình phạt tù hoặc cơ quan thi hành

án dân sự có văn bản đề nghị cung cấp thông tin. Trại giam, trại tạm giam, cơ

quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân

khu nơi đương sự đang chấp hành hình phạt tù phải ký, đóng dấu của cơ quan,

đơn vị vào biên bản xác minh hoặc có văn bản cung cấp thông tin trong thời

hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan thi hành án

dân sự và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp.

5. Việc ủy quyền xác minh của cơ quan thi hành án dân sự phải bằng văn

bản, nêu rõ nội dung ủy quyền và nội dung cần thiết khác. Thủ trưởng cơ quan

thi hành án dân sự nơi nhận ủy quyền phải chịu trách nhiệm về kết quả xác

minh theo nội dung ủy quyền, trả lời bằng văn bản về kết quả xác minh cho cơ

quan thi hành án dân sự đã ủy quyền trong thời hạn sau đây:

a) Đối với việc xác minh tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký

quyền sở hữu, sử dụng thì thời hạn trả lời kết quả xác minh không quá 30 ngày

kể từ ngày nhận được ủy quyền. Trường hợp khó khăn, phức tạp thì thời hạn

trả lời kết quả xác minh có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày kể từ ngày

nhận được ủy quyền;

b) Đối với việc xác minh các loại tài sản và thông tin khác thì thời hạn trả

lời kết quả xác minh không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được ủy quyền;

c) Đối với thông tin về tài khoản hoặc trường hợp thi hành biện pháp khẩn

cấp tạm thời thì phải trả lời kết quả xác minh ngay.

6. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin:

a) Bảo đảm các thông tin cung cấp phải trung thực, đầy đủ, chính xác về

nội dung và phù hợp với yêu cầu xác minh. Trường hợp từ chối hoặc không thể

đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin thì bên nhận yêu cầu phải có văn bản

thông báo nêu rõ lý do cho bên yêu cầu trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ

ngày nhận được yêu cầu;

b) Bảo mật việc cung cấp thông tin và nội dung cung cấp thông tin để ngăn

chặn các hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án của người phải thi

hành án và các tổ chức, cá nhân có liên quan;

c) Lưu trữ hồ sơ liên quan đến việc cung cấp thông tin, bao gồm: văn bản

yêu cầu cung cấp thông tin, văn bản cung cấp thông tin, tài liệu khác liên quan

đến việc cung cấp thông tin.

Điều 22Xử lý việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành

Điều 22. Xử lý việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành

Hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện

thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều 38 của Luật Thi

hành án dân sự mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người

phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý như sau:

1. Đối với việc cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành

án thì cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi để thống kê riêng.

Khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án

thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh và tổ chức thi hành án theo quy

định tại khoản 2 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Đối với việc cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo

yêu cầu thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo bằng văn bản về việc gửi lại

yêu cầu thi hành án cho người đã yêu cầu. Yêu cầu thi hành án và tài liệu kèm

theo phải được sao chụp và lưu trong hồ sơ thi hành án.

Thông báo về việc gửi lại yêu cầu thi hành án phải gửi cho Viện kiểm sát

nhân dân có thẩm quyền.

Sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án mà đương

sự yêu cầu thi hành án trở lại thì phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải

thi hành án có điều kiện thi hành. Trường hợp có căn cứ xác định người phải

thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định

thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.

Việc yêu cầu thi hành án trở lại thực hiện theo quy định tại Điều 34 của

Luật Thi hành án dân sự và Điều 9 Nghị định này.

Điều 23Công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều

Điều 23. Công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều

kiện thi hành

1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc chưa

có điều kiện thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đăng tải công khai thông

tin tên, địa chỉ của người phải thi hành án, bản án, quyết định phải thi hành,

quyết định thi hành án, nghĩa vụ chưa có điều kiện thi hành, lý do chưa có điều

kiện thi hành án trên Cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thi hành

án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự; gửi quyết định chưa có điều kiện thi

hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, có trụ sở hoặc nơi cư trú, có

trụ sở cuối cùng của người phải thi hành án để niêm yết.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày xác định được thông tin về

sự thay đổi tên, địa chỉ, nghĩa vụ và điều kiện thi hành án của người phải thi

hành án, cơ quan thi hành án dân sự đã công khai thông tin phải bổ sung, sửa

đổi thông tin và công khai nội dung thay đổi.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định đình chỉ thi

hành án hoặc quyết định tiếp tục thi hành án hoặc quyết định thu hồi quyết định

về việc chưa có điều kiện thi hành án hoặc có cơ sở xác định người phải thi

hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự

phải chấm dứt việc công khai thông tin trên Cổng, trang thông tin điện tử của

cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định đình

chỉ thi hành án hoặc quyết định tiếp tục thi hành án hoặc quyết định thu hồi

quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án hoặc thông tin về việc người

phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, Ủy ban nhân dân cấp

xã phải chấm dứt niêm yết công khai.

3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đăng tải, cập nhật, quản lý, khai

thác, sử dụng, cung cấp thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi

hành án.

Điều 24Bảo quản, khai thác, sử dụng tài sản thi hành án

Điều 24. Bảo quản, khai thác, sử dụng tài sản thi hành án

1. Trường hợp người phải thi hành án, người thân thích của họ được giao

bảo quản tài sản thì phải cam kết thực hiện đúng yêu cầu của Chấp hành viên

trong quá trình tổ chức thi hành án.

2. Kho bạc Nhà nước được giao bảo quản tài sản theo quy định tại điểm b

khoản 1 Điều 40 của Luật Thi hành án dân sự là Kho bạc Nhà nước quản lý địa

bàn nơi có trụ sở của cơ quan thi hành án dân sự.

3. Trường hợp giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ bảo

quản tài sản thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với cơ quan, tổ chức, cá

nhân đó. Hợp đồng phải có nội dung về chi phí, điều kiện bảo quản, trách nhiệm

của bên nhận bảo quản và nội dung khác có liên quan.

Trường hợp có căn cứ xác định chi phí thuê bảo quản tài sản lớn hơn giá

trị tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo và ấn định thời hạn 10 ngày

kể từ ngày được thông báo hợp lệ để người phải thi hành án tự bảo quản tài sản.

Hết thời hạn đã ấn định, Chấp hành viên thanh lý hợp đồng với cơ quan, tổ

chức, cá nhân được giao bảo quản tài sản. Cơ quan thi hành án dân sự không

chịu trách nhiệm về việc tài sản có mất mát, hư hỏng nếu người phải thi hành

án không nhận hoặc không tự bảo quản tài sản.

4. Việc giao bảo quản tài sản phải được lập thành biên bản ghi rõ loại tài

sản, tình trạng tài sản, giờ, ngày, tháng, năm giao; họ, tên Chấp hành viên,

đương sự, người được giao bảo quản, người chứng kiến (nếu có); quyền, nghĩa

vụ của người được giao bảo quản tài sản; cam kết của người được giao bảo

quản theo quy định tại khoản 1 Điều này và có chữ ký của các bên. Trường hợp

có người từ chối ký thì phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.

Đối với tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 40 của

Luật Thi hành án dân sự thì biên bản ghi rõ: Diện tích, loại đất, vị trí, số thửa đất,

số bản đồ; hiện trạng sử dụng đất; thời hạn giao quản lý, khai thác, sử dụng đất;

quyền và nghĩa vụ cụ thể của người được giao quản lý, khai thác, sử dụng đất.

Người được giao bảo quản tài sản quy định tại điểm c khoản 1 Điều 40 của

Luật Thi hành án dân sự được trả thù lao, được thanh toán chi phí bảo quản tài sản.

5. Biên bản giao bảo quản tài sản được giao cho đương sự, người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan, người được giao bảo quản tài sản hoặc người đang sử

dụng, bảo quản tài sản.

6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao bảo quản tài sản có trách nhiệm

bảo đảm các điều kiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật; thực hiện

yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên về việc bảo quản, lưu

giữ, nhập, xuất tài sản.

Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao bảo quản vi phạm quy

định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản, không bảo đảm các điều kiện

bảo quản, không thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành

viên hoặc cần ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, cản trở việc tổ chức thi

hành án thì Chấp hành viên giao cho tổ chức, cá nhân khác bảo quản.

Điều 25Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án

Điều 25. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án

1. Trường hợp người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích của người

đó theo bản án, quyết định có thể được chuyển giao thì cơ quan thi hành án dân

sự thông báo trên Trang thông tin điện tử của cơ quan thi hành án dân sự và

niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú cuối cùng của người được

thi hành án; trường hợp không xác định được nơi thường trú cuối cùng thì việc

niêm yết được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tạm trú có thời hạn

cuối cùng của người đó. Việc thi hành án được thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo mà cơ quan thi hành án

dân sự nhận được bản án, quyết định của Tòa án hoặc văn bản phân chia di sản

thừa kế có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật hoặc căn

cứ khác xác định người được thi hành án có người thừa kế thì cơ quan thi hành

án dân sự ra quyết định chuyển giao quyền, nghĩa vụ của người được thi hành

án cho những người thừa kế và tiếp tục tổ chức thi hành án theo quy định.

Người cung cấp thông tin, tài liệu quy định tại điểm này phải chịu trách

nhiệm về tính hợp pháp của các thông tin, tài liệu đã cung cấp;

b) Trường hợp không có căn cứ xác định người được thi hành án có người

thừa kế thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án theo

quy định tại Điều 48 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về trả tài sản chết nhưng có

người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản đó thì cơ quan thi hành án dân sự ấn

định trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo để người quản lý, sử dụng

tài sản của người phải thi hành án giao tài sản cho người được thi hành án. Hết

thời hạn đã ấn định mà họ không thực hiện thì cơ quan thi hành án dân sự tổ chức

giao tài sản, kể cả cưỡng chế đối với người đang quản lý, sử dụng tài sản để giao

tài sản theo quy định của pháp luật mà không ra quyết định chuyển giao quyền,

nghĩa vụ thi hành án.

3. Trường hợp thi hành nghĩa vụ về trả tiền mà người phải thi hành án chết

nhưng có tài sản để thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó

để thi hành án mà không ra quyết định chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án.

Trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án về việc phân chia di sản

thừa kế hoặc văn bản phân chia di sản có công chứng hoặc chứng thực thì cơ

quan thi hành án dân sự thông báo, ấn định thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông

báo để người thừa kế thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án. Hết thời

hạn đã ấn định mà người thừa kế không thực hiện nghĩa vụ thì cơ quan thi hành

án dân sự xử lý tài sản để thi hành án.

4. Thỏa thuận về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo quy định tại khoản

3 Điều 41 của Luật Thi hành án dân sự phải lập thành văn bản; có chữ ký xác

nhận của người chuyển giao, người nhận chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành

án, phù hợp với quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, pháp luật khác

có liên quan và phải được gửi cho cơ quan thi hành án dân sự. Trong thời hạn

10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thỏa thuận, Thủ trưởng cơ quan thi hành

án dân sự ra quyết định chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án.

5. Việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật

về dân sự và pháp luật khác có liên quan được thực hiện trước khi Thủ trưởng cơ

quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án thì người nhận chuyển giao có

các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật về thi hành án

dân sự.

Điều 26Ủy thác thi hành án

Điều 26. Ủy thác thi hành án

1. Căn cứ bản án, quyết định được thi hành hoặc kết quả xác minh, Thủ

trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án

dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở theo

quy định tại Điều 49 của Luật Thi hành án dân sự.

Trường hợp tài sản đang xử lý để thi hành án nhưng có tranh chấp và đã

được Tòa án thụ lý giải quyết mà đương sự có tài sản ở địa phương khác thì ủy

thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi có tài sản để thi hành án.

Trường hợp tài sản là tiền, tài sản số hoặc tài sản khác trong tài khoản thì

cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó để thi hành án mà không ủy thác thi

hành án.

2. Trường hợp người phải thi hành án có nhiều tài sản ở nhiều tỉnh, thành

phố thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ủy thác theo thứ tự sau đây:

a) Theo thỏa thuận của đương sự;

b) Nơi có tài sản ước tính đủ để thi hành án;

c) Nơi có tổng giá trị tài sản ước tính lớn nhất.

3. Quyết định ủy thác thi hành án phải ghi rõ khoản phải thi hành, khoản

đã thi hành xong, khoản đang thi hành, khoản ủy thác và các thông tin cần thiết

cho việc thực hiện ủy thác.

Khi gửi quyết định ủy thác thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải

gửi kèm theo bản án, quyết định; biên bản kê biên, tạm giữ tài sản và các tài

liệu khác có liên quan, nếu có.

4. Trường hợp người phải thi hành án không có tài sản hoặc không cư trú,

làm việc hoặc không có trụ sở ở địa phương thì cơ quan thi hành án dân sự nhận

ủy thác thực hiện theo quy định tại Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự; trường

hợp xác định người phải thi hành án có tài sản hoặc cư trú, làm việc hoặc có trụ

sở ở địa phương khác thì ủy thác tiếp cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có

điều kiện thi hành.

5. Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác không được từ chối thực hiện

quyết định ủy thác thi hành án, trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn,

sai sót về nội dung hoặc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.

6. Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành

án cư trú hoặc có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau thì cơ quan thi hành án

dân sự nơi nhận ủy thác có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án

đối với tất cả những người, tài sản có liên quan đến việc thi hành án để tránh

trường hợp tẩu tán, trốn tránh việc thi hành án.

7. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ được ủy thác cho cơ quan thi hành án

dân sự nơi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản đối với các quyết định

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây khi người phải thi hành án cư trú

hoặc có tài sản ở tỉnh, thành phố khác:

a) Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa

thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo

dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;

b) Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện

trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm

phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi

thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;

c) Kê biên tài sản đang tranh chấp;

d) Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.

8. Sau khi thực hiện ủy thác thi hành án, trường hợp cơ quan thi hành án

dân sự đã ủy thác nhận được quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án

hoặc bản án, quyết định khác có liên quan đến việc thi hành án đã ủy thác thì

trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định đó,

cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác phải gửi cho cơ quan thi hành án dân sự

nhận ủy thác để xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 27Ủy thác xử lý tài sản

Điều 27. Ủy thác xử lý tài sản

1. Thủ tục ủy thác xử lý tài sản được thực hiện như sau:

a) Hồ sơ ủy thác xử lý tài sản bao gồm quyết định ủy thác xử lý tài sản;

bản án, quyết định; quyết định thi hành án và các tài liệu khác có liên quan,

nếu có;

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày giao tài sản cho người mua

được tài sản hoặc người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, cơ

quan thi hành án dân sự nhận ủy thác xử lý tài sản chuyển số tiền thu được cho

cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác để thanh toán theo quy định tại Điều 54

của Luật Thi hành án dân sự, sau khi trừ chi phí thi hành án, đồng thời, thông

báo ngay bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác;

c) Cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác xử lý tài sản chịu trách nhiệm

toàn bộ về quá trình tổ chức thi hành vụ việc, trừ việc xử lý tài sản của cơ quan

thi hành án dân sự nhận ủy thác; theo dõi việc xử lý tài sản của cơ quan thi hành

án dân sự nhận ủy thác.

Trường hợp xác định kết quả thẩm định giá, xác định giá, đấu giá tài sản

đủ để thanh toán nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí liên quan

hoặc có quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án thì thông báo ngay bằng văn

bản cho cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác để tạm dừng việc xử lý các tài

sản còn lại. Việc tiếp tục xử lý tài sản ủy thác được thực hiện theo thông báo

của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác.

Trường hợp đã thu đủ số tiền thi hành án và các chi phí liên quan hoặc có

quyết định đình chỉ thi hành án thì thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan

thi hành án dân sự nhận ủy thác để chấm dứt việc xử lý các tài sản còn lại, giải

tỏa kê biên tài sản theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Cơ quan thi hành

án dân sự đã ủy thác phải thanh toán các chi phí thi hành án phát sinh trước thời

điểm chấm dứt việc xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác

theo quy định tại Điều 53 của Luật Thi hành án dân sự;

d) Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác xử lý tài sản chịu trách nhiệm

thực hiện các quy định liên quan đến việc xử lý tài sản ủy thác; gửi quyết định

xử lý tài sản ủy thác và thông báo kết quả thẩm định giá, xác định giá, thời điểm

bán đấu giá, kết quả xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác;

tạm dừng hoặc chấm dứt xử lý tài sản theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân

sự đã ủy thác.

2. Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác xử lý tài sản không được từ

chối thực hiện quyết định ủy thác xử lý tài sản, trừ trường hợp quyết định ủy

thác có sự nhầm lẫn, sai sót về nội dung hoặc thẩm quyền của cơ quan thi hành

án dân sự nhận ủy thác.

Điều 28Thi hành nghĩa vụ liên đới

Điều 28. Thi hành nghĩa vụ liên đới

1. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên nghĩa vụ liên đới thì

trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự có quyền yêu

cầu một hoặc một số người bất kỳ có điều kiện thi hành án trong số những

người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới.

Người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án có quyền yêu cầu người

có nghĩa vụ liên đới khác thanh toán lại phần nghĩa vụ mà người đó đã thực

hiện thay cho họ theo quy định của pháp luật về dân sự.

2. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên nghĩa vụ liên đới xác

định rõ phần nghĩa vụ của từng người mà người được thi hành án có văn bản

đồng ý cho một hoặc một số người phải thi hành án không thi hành phần nghĩa

vụ của họ thì cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành án phần nghĩa vụ của

một hoặc một số người phải thi hành án đó. Những người phải thi hành án còn

lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.

Điều 29Thứ tự thanh toán tiền thi hành án

Điều 29. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án

1. Trường hợp bản án, quyết định tuyên lãi chậm thi hành án thì khi thu

được tiền, cơ quan thi hành án dân sự thanh toán số tiền được tuyên trong bản

án, quyết định theo quyết định thi hành án trước, sau đó mới thanh toán tiền lãi

chậm thi hành án theo yêu cầu tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ

trường hợp đương sự có thỏa thuận khác hoặc bản án, quyết định có nội dung khác.

2. Khi tính lãi chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành

theo quyết định thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả.

Thời điểm bắt đầu tính lãi chậm thi hành án được thực hiện theo bản án,

quyết định; trường hợp bản án, quyết định không xác định thì được tính từ ngày

yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định này. Lãi chậm

thi hành án được tính đến thời điểm cơ quan thi hành án dân sự thu được tiền;

trường hợp bán tài sản hoặc giao tài sản cho người được thi hành án để trừ vào

tiền thi hành án thì lãi chậm thi hành án được tính đến thời điểm giao tài sản

cho người mua được tài sản hoặc người được thi hành án nhận tài sản để trừ

vào tiền thi hành án.

3. Trường hợp có quyết định kê biên bổ sung theo quy định tại khoản 3

Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự thì thời điểm để xác định thứ tự ưu tiên

thanh toán là thời điểm có quyết định kê biên ban đầu.

Trường hợp người phải thi hành án thỏa thuận với người được thi hành án

về việc giao tài sản cho người được thi hành án để trừ vào tiền thi hành án thì

thời điểm để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán là thời điểm có biên bản về việc

giao tài sản quy định tại khoản 6 Điều 14 Nghị định này.

Điều 30Thủ tục thanh toán tiền thi hành án

Điều 30. Thủ tục thanh toán tiền thi hành án

1. Trường hợp nhiều người được nhận chung một khoản tiền theo bản án,

quyết định nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì Chấp

hành viên thực hiện thủ tục về thi hành án đối với những người đã yêu cầu,

thanh toán tiền cho một trong những người được thi hành án đã yêu cầu hoặc

người được thi hành án tại thời điểm thanh toán tiền và thu phí thi hành án đối

với người được nhận tiền. Trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ

thể theo bản án, quyết định nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi

hành án thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục về thi hành án đối với những

người đã yêu cầu, tổ chức giao tài sản cho những người được thi hành án đã

yêu cầu hoặc những người được thi hành án có mặt tại thời điểm trả tài sản và

thu phí thi hành án đối với những người được nhận tài sản. Quyền và lợi ích

hợp pháp của những người được thi hành án khác theo bản án, quyết định đó

được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật về dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định tuyên chia tài sản chung, chia thừa kế; chia

tài sản trong ly hôn hoặc các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản

thì những người được nhận tiền, tài sản phải nộp phí thi hành án tương ứng với

giá trị tiền, tài sản họ thực nhận.

2. Trường hợp thanh toán tiền khi xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên

kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể theo quy định tại khoản 3 Điều 54

của Luật Thi hành án dân sự có nhiều người được thi hành án nhưng chỉ một

hoặc một số người yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thanh toán

cho những người đã yêu cầu theo tỷ lệ mà họ được nhận, số tiền còn lại gửi vào

ngân hàng thương mại theo hình thức tiền gửi kỳ hạn 01 tháng, đồng thời thông

báo cho những người chưa yêu cầu về quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường

hợp đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà cơ quan thi hành án dân sự không

nhận được yêu cầu thì số tiền đã gửi và tiền lãi được thanh toán tiếp cho những

người đã có yêu cầu thi hành án trong bản án, quyết định đó; số tiền còn lại

được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành

án khác (nếu có) tính đến thời điểm thanh toán hoặc trả cho người có tài sản bị

kê biên, xử lý.

3. Trường hợp kéo dài thời hạn thanh toán tiền thi hành án theo quy định

tại khoản 6 Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

a) Việc thi hành án có số người được thi hành án nhiều, số tiền thu được ít

và cơ quan thi hành án dân sự đang tiếp tục xử lý tài sản khác để thi hành án;

thời hạn kéo dài không quá 45 ngày;

b) Có quyết định của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chưa chi trả tiền thi

hành án theo quy định của pháp luật;

c) Có khiếu nại, tố cáo, kháng nghị, kiến nghị liên quan đến việc xử lý số

tiền, tài sản đó;

d) Xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách

quan dẫn đến không thể thanh toán đúng thời hạn theo quy định của Luật Thi

hành án dân sự và Nghị định này.

4. Thời hạn thanh toán tiền quy định tại các điểm b, c và d khoản 3 Điều

này không quá 10 ngày kể từ ngày căn cứ kéo dài thời hạn thanh toán tiền không

còn hoặc kể từ ngày nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

5. Số tiền thi hành án thu được phải nộp vào tài khoản của cơ quan thi hành

án dân sự mở tại ngân hàng thương mại hoặc mở tại Kho bạc Nhà nước theo

quy định của pháp luật. Cơ quan thi hành án dân sự mở tài khoản thanh toán tại

ngân hàng thương mại để thu, chi tiền thi hành án.

Việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện bằng hình thức chuyển

khoản hoặc thông qua phương tiện thanh toán điện tử khác được pháp luật công

nhận từ tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự; trường hợp người được nhận

tiền là cá nhân không cung cấp số tài khoản nhận tiền thì thanh toán trực tiếp

tại cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì việc chi trả tiền

thi hành án chỉ thực hiện bằng chuyển khoản vào tài khoản của cơ quan, tổ chức

đó, trừ trường hợp bản án, quyết định có nội dung khác. Trường hợp tại thời

điểm thanh toán mà cơ quan, tổ chức đó đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải

thể, chuyển đổi loại hình, sắp xếp lại, kết thúc hoạt động hoặc trường hợp khác

mà không xác định được số tài khoản hoặc người được nhận tiền thì số tiền thi

hành án được xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án

dân sự.

Đối với khoản tiền chi trả cho người được nhận là cá nhân, sau khi hết thời

hạn thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự

mà người được nhận tiền không đến nhận nếu đã xác định được địa chỉ rõ ràng

của họ và khoản tiền có giá trị nhỏ hơn 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo

vùng nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở thì cơ quan thi hành án dân sự

lập phiếu chi và gửi tiền cho họ qua dịch vụ bưu chính. Trường hợp doanh

nghiệp bưu chính trả lại tiền do không có người nhận thì cơ quan thi hành án

dân sự xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự và

khoản 2 Điều 41 Nghị định này.

6. Trường hợp bản án, quyết định tuyên trả tiền bằng ngoại tệ cho người

được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án thực hiện như sau:

a) Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thu ngoại tệ thì thanh toán cho

người được thi hành án bằng ngoại tệ;

b) Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thu tiền Việt Nam đồng thì trong

thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thu được tiền, Chấp hành viên đổi số tiền

thu được sang ngoại tệ theo giá bán của Ngân hàng thương mại để thanh toán

cho người được thi hành án; trừ trường hợp đương sự thoả thuận về việc trả

bằng tiền Việt Nam đồng.

7. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền mà chưa giao tài sản

cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án thì

cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng

thương mại theo hình thức tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 01 tháng cho đến khi giao

được tài sản.

Phần lãi từ tiền gửi phát sinh trong thời hạn giao tài sản quy định tại Điều 67

Nghị định này được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án; phần lãi từ

tiền gửi phát sinh ngoài thời hạn giao tài sản hoặc trong trường hợp kết quả đấu

giá tài sản bị hủy thuộc về người mua tài sản hoặc người nhận tài sản.

8. Cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền thi hành án

đã thu theo hình thức tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 01 tháng tại ngân hàng thương

mại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thi hành án dân sự có

quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án hoặc thông báo về việc tạm đình chỉ

thi hành án để cơ quan có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định theo thủ

tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc kể từ ngày có quyết định giám đốc thẩm, tái

thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm

lại hoặc xét xử phúc thẩm lại.

Phần lãi tiền gửi tiết kiệm được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành

án; trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản thi hành án hoặc giao tài sản

cho người được thi hành án nhận để trừ vào tiền thi hành án thì phần lãi tiền

gửi tiết kiệm thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều này.

9. Chi phí chuyển tiền thi hành án do người được nhận tiền chịu.

10. Việc quản lý, sử dụng tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự mở tại

ngân hàng thương mại thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Điều 31Bù trừ nghĩa vụ thi hành án

Điều 31. Bù trừ nghĩa vụ thi hành án

1. Việc bù trừ nghĩa vụ thi hành án trong các việc thi hành án đang do cùng

một cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành thực hiện như sau:

Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ về trả tiền hoặc trả tài sản cùng loại

thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện bù trừ nghĩa vụ giữa các đương sự theo

quy định của Bộ luật Dân sự. Khi bù trừ nghĩa vụ, đương sự phải nộp phí, chi

phí thi hành án (nếu có).

Sau khi bù trừ, cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục tổ chức thi hành án theo

quy định đối với phần nghĩa vụ còn lại (nếu có).

2. Việc bù trừ nghĩa vụ thi hành án không được thực hiện trong trường hợp

việc bù trừ nghĩa vụ làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích

hợp pháp của người thứ ba đã được xác định theo bản án, quyết định có hiệu

lực pháp luật và các trường hợp khác theo quy định của Bộ luật Dân sự.

3. Trường hợp các việc thi hành án đang do nhiều cơ quan thi hành án dân

sự tổ chức thi hành mà phát hiện có căn cứ để thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ

thì các cơ quan thi hành án dân sự có thể phối hợp với nhau để thực hiện bù trừ

nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 32Kết thúc thi hành án và xác nhận kết quả thi hành án

Điều 32. Kết thúc thi hành án và xác nhận kết quả thi hành án

1. Việc thi hành án kết thúc theo quy định tại khoản 3 Điều 55 của Luật

Thi hành án dân sự khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã thực hiện việc thông báo, gửi quyết định thi hành án cho đương sự,

cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và cơ quan ra bản án, quyết định trong

trường hợp thi hành bản án, quyết định chỉ có nội dung tuyên hủy bỏ lệnh hoặc

quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời trước đó

của cơ quan có thẩm quyền hoặc trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện

pháp khẩn cấp tạm thời, trừ trường hợp phải thực hiện theo quy định tại khoản

2 Điều 62 của Luật Thi hành án dân sự;

b) Có căn cứ kết thúc việc thi hành án theo quy định của Luật Phục hồi,

phá sản;

c) Thi hành nghĩa vụ về trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó không thể thu hồi và

cũng không thể cấp lại được hoặc đã được Chấp hành viên chuyển giao cho cơ

quan ban hành giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật Thi hành án

dân sự hoặc trường hợp trả tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không

còn sử dụng được đã được cơ quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng Nhà

nước xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự;

d) Đã có thông báo của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại khoản

2 Điều 22 Nghị định này;

đ) Trường hợp bản án, quyết định tuyên giao quyền thăm nom, chăm sóc

người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người không có khả

năng lao động mà người đó chết, đã thành niên, có năng lực hành vi dân sự

hoặc có khả năng lao động;

e) Cơ quan có thẩm quyền đã truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không

chấp hành án theo đề nghị của Chấp hành viên quy định tại Điều 91 và Điều 92

của Luật Thi hành án dân sự.

2. Định kỳ hằng tháng, cơ quan thi hành án dân sự trích xuất danh sách việc

thi hành án kết thúc để thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.

3. Đương sự và thân nhân của họ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án

dân sự xác nhận kết quả thi hành án theo các hình thức quy định tại khoản 1

Điều 9 Nghị định này.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương

sự hoặc thân nhân của họ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp giấy xác

nhận về kết quả thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo quyết

định thi hành án.

Nội dung của văn bản xác nhận phải thể hiện rõ khoản nghĩa vụ theo bản

án, quyết định, nghĩa vụ phải thi hành theo quyết định thi hành án và kết quả

thi hành án cho đến thời điểm xác nhận.

Kết quả thi hành án được xác nhận thể hiện việc đương sự đã thực hiện

xong toàn bộ hoặc một phần quyền, nghĩa vụ của mình theo quyết định thi hành

án hoặc thi hành xong nghĩa vụ thi hành án của từng định kỳ, thời hạn trong

trường hợp việc thi hành án được tiến hành theo định kỳ, theo thời hạn.

Mục 2

VIỆC THI HÀNH ÁN TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ

Điều 33Thủ tục thông báo thi hành án đối với người đang chấp hành

Điều 33. Thủ tục thông báo thi hành án đối với người đang chấp hành

hình phạt tù

1. Cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản, quyết định về thi hành án cho

Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án

hình sự công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân

khu nơi đương sự đang chấp hành hình phạt tù theo các hình thức quy định tại

Điều 20 Nghị định này.

Trường hợp chuyển trực tiếp thì phải lập biên bản, trong đó ghi rõ thời

gian, địa điểm, nội dung giao nhận; họ, tên, chữ ký của bên giao, bên nhận.

2. Khi gửi quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải gửi văn

bản thông báo cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công

an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đương sự đang

chấp hành hình phạt tù.

Văn bản thông báo có các nội dung sau: địa chỉ, số tài khoản của cơ quan

thi hành án dân sự; số tiền, tài sản, giấy tờ mà phạm nhân là người phải thi hành

án phải nộp; số tiền, tài sản, giấy tờ mà phạm nhân là người được thi hành án

dân sự được nhận; quyền từ chối nhận tiền, tài sản, giấy tờ hoặc ủy quyền cho

người khác nhận thay; trách nhiệm thanh toán các chi phí cho việc gửi tiền, tài

sản, giấy tờ.

Trường hợp phạm nhân vừa là người được thi hành án, vừa là người phải

thi hành án thì văn bản thông báo phải ghi rõ nếu không tự nguyện thi hành án

thì số tiền, tài sản, giấy tờ đó sẽ được xử lý để thi hành án theo quy định của

pháp luật.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản, quyết

định về thi hành án, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ

quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình

sự cấp quân khu giao văn bản, quyết định cho người được thông báo là phạm

nhân; yêu cầu ký nhận hoặc điểm chỉ vào phiếu chuyển và gửi phiếu chuyển đó

cho cơ quan thi hành án dân sự. Ngày ký nhận hoặc điểm chỉ là ngày được

thông báo hợp lệ.

Trường hợp người được thông báo không nhận văn bản thì người thực hiện

thông báo phải lập biên bản, có chữ ký của người chứng kiến. Ngày lập biên

bản là ngày thông báo hợp lệ.

4. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự ủy thác cho cơ quan thi hành án

dân sự khác thì phải thông báo bằng văn bản cho trại giam, trại tạm giam, cơ

quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân

khu nơi phạm nhân đang chấp hành án biết về việc ủy thác thi hành án dân sự,

kết quả thi hành án dân sự.

Điều 34Thủ tục thu tiền, tài sản, giấy tờ đối với người đang chấp

Điều 34. Thủ tục thu tiền, tài sản, giấy tờ đối với người đang chấp

hành hình phạt tù

1. Trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ

tự nguyện nộp tiền, tài sản, giấy tờ tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành

án hình sự công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để

thi hành án thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan

thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự

cấp quân khu thu tiền, lập phiếu thu hoặc lập biên bản ghi nhận việc thu tiền,

tài sản, giấy tờ; lý do nộp tiền, tài sản, giấy tờ.

Trường hợp chưa nhận được quyết định thi hành án thì trại giam, trại tạm

giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình

sự cấp quân khu có trách nhiệm tiếp nhận tiền, tài sản, giấy tờ do phạm nhân là

người phải thi hành án hoặc thân nhân của họ nộp; đồng thời, lập biên bản và

thu tiền, tài sản, giấy tờ đó. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thu

tiền, tài sản, giấy tờ, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công

an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo việc thu tiền,

tài sản, giấy tờ kèm theo biên bản tự nguyện nộp tiền, tài sản, giấy tờ cho cơ

quan thi hành án dân sự nơi Tòa án xét xử sơ thẩm. Trong thời hạn 05 ngày làm

việc kể từ ngày nhận được thông báo và các tài liệu khác có liên quan, cơ quan

thi hành án dân sự thông báo cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án

hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu biết số tài

khoản, địa chỉ của cơ quan thi hành án dân sự.

2. Việc thu tài sản, giấy tờ không phải là tiền của phạm nhân là người phải

thi hành án hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp tại trại giam, trại tạm giam,

cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp

quân khu phải lập biên bản thu tài sản, giấy tờ. Trong biên bản thu tài sản, giấy

tờ phải ghi rõ thời gian, địa điểm, lý do, căn cứ thu tài sản, giấy tờ, số lượng,

tình trạng tài sản, giấy tờ; họ, tên, chữ ký của người nộp, người thu; họ, tên,

chữ ký của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi

hành án hình sự công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự

cấp quân khu.

Biên bản thu tài sản, giấy tờ được lập thành 03 bản, 01 bản giao cho phạm

nhân là người nộp tài sản, giấy tờ hoặc thân nhân của họ, 01 bản lưu tại trại

giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh hoặc cơ quan

thi hành án hình sự cấp quân khu, 01 bản chuyển cơ quan thi hành án dân sự.

3. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày thu được tiền hoặc tài sản, giấy tờ,

trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan

thi hành án hình sự cấp quân khu chuyển số tiền thu được vào tài khoản của cơ

quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án hoặc đã gửi thông báo

theo quy định tại khoản 1 Điều này; gửi tài sản, giấy tờ đã thu được và biên bản

hoặc phiếu thu, danh sách phạm nhân nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự

đã gửi quyết định thi hành án hoặc đã gửi thông báo. Danh sách phạm nhân nộp

tiền phải ghi rõ các thông tin sau: họ, tên của phạm nhân; bản án, quyết định;

quyết định thi hành án; lý do nộp tiền; số tiền thu viết bằng số, bằng chữ.

Sau khi nhận được tiền và danh sách phạm nhân nộp tiền, cơ quan thi hành

án dân sự lập biên lai thu tiền và gửi cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành

án hình sự công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

4. Đối với khoản tiền trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự

công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đã chuyển vào tài

khoản của cơ quan thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý để

thi hành án theo quy định.

Trường hợp không xác định được bản án, quyết định được thi hành hoặc

không xác định được người được nhận tiền thì sau 05 năm kể từ ngày nhận

được tiền, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục sung công. Sau khi sung

công, trường hợp xác định được bản án, quyết định của Tòa án hoặc xác định

được người nhận tiền thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thoái thu theo

quy định của pháp luật để trả lại người được nhận tiền.

Đối với khoản tiền đã chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự nhưng đến

ngày 01 tháng 7 năm 2026 mà vẫn không xác định được bản án, quyết định

được thi hành hoặc không xác định được người được nhận tiền hoặc việc thi

hành án đã kết thúc thì được xử lý theo quy định tại khoản này.

Điều 35Thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ đối với người đang chấp

Điều 35. Thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ đối với người đang chấp

hành hình phạt tù

1. Trường hợp người được nhận tiền, tài sản, giấy tờ đang chấp hành hình

phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp

tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thì việc trả tiền, tài sản, giấy tờ

được thực hiện thông qua Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ

trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình

sự cấp quân khu.

2. Trường hợp phạm nhân là người được thi hành án có đơn đề nghị được

nhận tiền, tài sản, giấy tờ tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình

sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thì trại giam, trại

tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án

hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự

biết; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan

thi hành án dân sự có trách nhiệm gửi tiền, tài sản, giấy tờ cho trại giam, trại

tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án

hình sự cấp quân khu để trả tiền, tài sản, giấy tờ cho phạm nhân.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tiền, tài sản, giấy

tờ do cơ quan thi hành án dân sự gửi thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi

hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu

tiến hành trả tiền, tài sản, giấy tờ cho phạm nhân.

Việc trả tiền, tài sản, giấy tờ phải lập thành biên bản và gửi cho cơ quan

thi hành án dân sự.

3. Trường hợp phạm nhân là người được thi hành án đề nghị được ủy quyền

cho người thân nhận tiền, tài sản, giấy tờ thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan

thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm

lập biên bản về việc ủy quyền (hoặc xác nhận vào giấy ủy quyền) và gửi cho

cơ quan thi hành án dân sự. Trong biên bản về việc ủy quyền hoặc giấy ủy

quyền phải ghi họ, tên, địa chỉ, số định danh cá nhân của người được ủy quyền,

nội dung uỷ quyền.

4. Trường hợp phạm nhân là người được thi hành án từ chối nhận tiền, tài

sản, giấy tờ thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an

cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập biên bản

về việc phạm nhân từ chối nhận tiền, tài sản, giấy tờ và gửi cơ quan thi hành án

dân sự đã gửi quyết định thi hành án để tiến hành các thủ tục xử lý theo quy

định của pháp luật. Biên bản được lập thành 03 bản, trại giam, trại tạm giam

hoặc cơ quan thi hành án hình sự giữ 01 bản, phạm nhân là người được thi hành

án giữ 01 bản và 01 bản gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.

Điều 36Trách nhiệm thông tin về tình trạng của đương sự đang chấp

Điều 36. Trách nhiệm thông tin về tình trạng của đương sự đang chấp

hành hình phạt tù

1. Trường hợp phạm nhân chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án bị

chết thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh,

cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đương sự chấp hành hình phạt tù

có trách nhiệm thông báo bằng văn bản, kèm theo tài liệu có liên quan (nếu có)

cho cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi

hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm biết.

2. Trường hợp phạm nhân chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án mà

chuyển trại giam, trại tạm giam thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành

án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu gửi quyết

định thi hành án và các tài liệu, giấy tờ có liên quan đến nơi phạm nhân được

chuyển đến; đồng thời, thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự

đã gửi quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã

xét xử sơ thẩm biết.

Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành

án hình sự công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân

khu có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét

xử sơ thẩm hoặc cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án các

thông tin về họ, tên, địa chỉ của phạm nhân là người phải thi hành án hoặc phạm

nhân là người được thi hành án theo bản án hình sự, trong thời hạn 15 ngày kể

từ ngày tiếp nhận phạm nhân vào trại giam.

3. Trường hợp phạm nhân chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án mà

được đặc xá, đã chấp hành xong án phạt tù, được miễn chấp hành án phạt tù

hoặc được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì trại giam, trại tạm giam, cơ

quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân

khu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản và các tài liệu liên quan (nếu có)

cho cơ quan thi hành án dân sự đã gửi quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi

hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm biết.

Điều 37Giao, nhận, xuất vật chứng, tài sản tạm giữ

Điều 37. Giao, nhận, xuất vật chứng, tài sản tạm giữ

1. Cơ quan thi hành án dân sự gửi quyết định thi hành án đối với khoản xử

lý vật chứng, tài sản tạm giữ, kèm theo bản án, quyết định cho cơ quan, tổ chức

đang bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ để đối chiếu.

Trường hợp vật chứng, tài sản tạm giữ theo bản án, quyết định không đúng

với biên bản thu giữ ban đầu thì cơ quan, tổ chức đang bảo quản vật chứng

thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự để yêu cầu Tòa án sửa chữa, bổ sung,

giải thích hoặc kiến nghị xem xét lại bản án, quyết định theo quy định tại điểm

d và điểm đ khoản 2 Điều 22 của Luật Thi hành án dân sự.

Trước khi xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ thì cơ quan thi hành án dân sự

thông báo cho cơ quan, tổ chức đang bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ và ấn

định thời điểm (giờ, ngày, tháng, năm) thực hiện việc bàn giao vật chứng, tài

sản tạm giữ cho cơ quan thi hành án dân sự; trường hợp vật chứng là tiền thì

chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự mở tại Kho bạc Nhà nước.

2. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm kiểm kê, tiếp nhận vật chứng,

tài sản tạm giữ tại nơi đang bảo quản, lưu giữ vật chứng, tài sản tạm giữ. Việc

giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ thực hiện như sau:

a) Chấp hành viên tiếp nhận vật chứng, tài sản tạm giữ có trách nhiệm

kiểm kê, kiểm tra hiện trạng vật chứng, tài sản tạm giữ;

b) Trường hợp vật chứng, tài sản tạm giữ đã bị thay đổi so với biên bản

thu giữ ban đầu thì nội dung này phải được ghi vào biên bản. Thủ trưởng cơ

quan thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Thủ trưởng cơ quan, tổ chức đang

bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ kiểm tra, làm rõ về những thay đổi đó.

Cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận vật chứng, tài sản tạm giữ đủ và

đúng với hiện trạng ghi trong biên bản thu giữ ban đầu. Trường hợp có văn bản

xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức đang bảo quản vật chứng, tài sản

tạm giữ về hiện trạng tài sản và chịu trách nhiệm về việc tài sản có sự thay đổi

thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận vật chứng, tài sản tạm giữ theo hiện

trạng tài sản được xác nhận trong văn bản đó;

c) Trường hợp vật chứng, tài sản tạm giữ được bàn giao dưới hình thức

gói niêm phong thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ nhận khi rõ số lượng, chủng

loại, chất lượng của từng loại vật chứng, tài sản tạm giữ trong gói niêm phong

đó; đối với vật chứng, tài sản tạm giữ pháp luật quy định phải trưng cầu giám

định thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ nhận dưới hình thức gói niêm phong

kèm theo kết luận giám định của cơ quan có thẩm quyền.

Trường hợp niêm phong bị rách hoặc có dấu hiệu khả nghi thì cơ quan thi

hành án dân sự chỉ tiếp nhận khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền;

d) Việc giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ phải lập thành biên bản, ghi

rõ thời gian giao nhận; số lượng, chủng loại, hiện trạng của từng loại vật chứng,

tài sản tạm giữ có so sánh với biên bản thu giữ ban đầu.

Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ phải có chữ ký của Chấp

hành viên và dấu của cơ quan thi hành án dân sự, chữ ký của người đại diện và

dấu của cơ quan, tổ chức đang bảo quản. Bên giao, bên nhận mỗi bên giữ 01

bản; kế toán bên nhận giữ 01 bản và 01 bản lưu hồ sơ thi hành án;

đ) Sau khi thực hiện xong thủ tục tiếp nhận, vật chứng, tài sản tạm giữ tiếp

tục được bảo quản, lưu giữ tại nơi đang bảo quản.

3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ấn định thời điểm thực hiện việc

xuất kho để xử lý theo quy định và thông báo cho cơ quan, tổ chức đang bảo

quản vật chứng, tài sản tạm giữ; cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý vật

chứng, tài sản tạm giữ để thực hiện việc tiếp nhận vật chứng, tài sản tại thời

điểm đã ấn định. Sau khi nhận được thông báo của cơ quan thi hành án dân sự,

cơ quan, tổ chức đang bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ thực hiện xuất kho

theo quy định.

Thủ kho, đại diện cơ quan, tổ chức đang bảo quản vật chứng, tài sản tạm

giữ có trách nhiệm xuất vật chứng, tài sản tạm giữ và giao cho đại diện cơ quan

thi hành án dân sự, cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản

tạm giữ theo thông báo của cơ quan thi hành án dân sự. Việc xuất vật chứng,

tài sản tạm giữ được thực hiện tại nơi vật chứng, tài sản đang được bảo quản.

Điều 38Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân

Điều 38. Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân

trong bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ

1. Cơ quan, tổ chức đang bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ có trách

nhiệm, quyền hạn sau đây:

a) Bàn giao vật chứng, tài sản tạm giữ cho cơ quan thi hành án dân sự, cơ

quan có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ theo quy định

tại Điều 37 Nghị định này; tiếp tục bảo quản, lưu giữ vật chứng, tài sản tạm giữ

đến khi cơ quan thi hành án dân sự thực hiện tiêu hủy, trả lại tài sản cho đương

sự hoặc giao cho Sở Tài chính, Ủy ban nhân dân cấp xã để sung quỹ nhà nước

hoặc xử lý xong theo quy định của pháp luật;

b) Chỉ đạo và tổ chức việc giao, bảo quản, kiểm tra, kiểm kê, tổng hợp báo

cáo về việc bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ theo quy định của pháp luật;

c) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong xử lý vật chứng, tài sản

tạm giữ theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

d) Chỉ đạo, phối hợp với cơ quan liên quan trong việc xuất kho và xử lý

các vật chứng, tài sản tạm giữ quy định tại khoản 3 Điều này;

đ) Bảo đảm an ninh, an toàn và vệ sinh môi trường xung quanh khu vực

kho vật chứng;

e) Định kỳ 06 tháng, hàng năm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự rà

soát, thống kê vật chứng, tài sản tạm giữ hiện đang bảo quản tại kho vật chứng;

chỉ đạo các đơn vị, thủ kho, cá nhân liên quan khác thuộc quyền quản lý trong

việc kiểm kê, rà soát kho vật chứng và báo cáo lãnh đạo cơ quan, tổ chức quản

lý kho vật chứng;

g) Trách nhiệm, quyền hạn theo quy định của pháp luật về quản lý kho

vật chứng.

2. Thủ kho vật chứng có trách nhiệm sau đây:

a) Tiếp nhận, nhập, xuất, bảo quản, giao vật chứng, tài sản tạm giữ tại kho

theo lệnh hoặc quyết định, yêu cầu của cơ quan, tổ chức đang bảo quản vật

chứng, tài sản tạm giữ, cơ quan thi hành án dân sự;

b) Báo cáo Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý kho vật chứng khi phát hiện

vật chứng, tài sản tạm giữ bị mất mát, xâm phạm, chiếm đoạt, nguy cơ hư hỏng

hoặc đe dọa an toàn của kho vật chứng, ảnh hưởng đến con người, tài sản,

môi trường;

c) Định kỳ 06 tháng, hàng năm tiến hành kiểm kê kho vật chứng, báo cáo

Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý kho vật chứng;

d) Xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ, phương án phòng cháy, chữa

cháy hoặc biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố để đề xuất cơ quan có thẩm

quyền phê duyệt;

đ) Trách nhiệm, quyền hạn theo quy định của pháp luật về quản lý kho

vật chứng.

3. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thống

nhất với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo rà

soát, kiểm kê, lập danh sách các vật chứng, tài sản tạm giữ cơ quan thi hành án

dân sự đã tiếp nhận trên 05 năm mà không xác định được bản án, quyết định

của Tòa án tuyên xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ đó.

Căn cứ danh sách được rà soát, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc

thẩm định giá, xác định giá và bán theo quy định tại các Điều 82, 83 của Luật

Thi hành án dân sự và chuyển nộp số tiền thu được vào ngân sách nhà nước.

Trường hợp vật chứng, tài sản tạm giữ đã bị hư hỏng, không còn giá trị sử

dụng thì tiêu hủy theo quy định tại Điều 58 của Luật Thi hành án dân sự.

Điều 39Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ

Điều 39. Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ

nhà nước

1. Việc thông báo và giao vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung

quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 57 của Luật Thi hành án dân sự

thực hiện như sau:

a) Đối với các bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành

phố tổ chức thi hành thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có vật chứng, tài sản tạm

giữ tiếp nhận và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ;

b) Đối với bản án, quyết định do cơ quan thi hành án cấp quân khu tổ chức

thi hành thì Sở Tài chính nơi có vật chứng, tài sản tạm giữ tiếp nhận và xử lý

vật chứng, tài sản tạm giữ.

2. Đến thời điểm đã ấn định theo thông báo của cơ quan thi hành án dân

sự quy định tại khoản 3 Điều 37 Nghị định này mà cơ quan có thẩm quyền tiếp

nhận, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ không tiếp nhận vật chứng, tài sản thì

phải thanh toán các khoản chi phí cho việc bảo quản tài sản và phải chịu mọi

rủi ro (nếu có).

3. Việc chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ

nhà nước được thực hiện tại nơi đang bảo quản, lưu giữ vật chứng, tài sản tạm

giữ và kết thúc tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận vật chứng,

tài sản.

Khi chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ bị tịch thu, sung quỹ nhà nước

phải kèm theo quyết định thi hành án, bản án, quyết định.

Việc chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ bị tịch thu, sung quỹ nhà nước

phải có sự tham gia của Chấp hành viên và đại diện cơ quan có thẩm quyền tiếp

nhận, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ. Việc bàn giao vật chứng, tài sản tạm giữ

phải được lập thành biên bản, có chữ ký và dấu của bên giao, bên nhận.

4. Trường hợp thi hành khoản tịch thu tài sản là tiền thì trong thời hạn 07

ngày kể từ ngày nhận được tiền, cơ quan thi hành án dân sự chuyển nộp số tiền

đó vào ngân sách nhà nước; trường hợp đã nhận tiền trước khi có quyết định

thi hành án thì thời hạn là 07 ngày kể từ ngày có quyết định thi hành án.

Điều 40Tiêu hủy vật chứng, tài sản

Điều 40. Tiêu hủy vật chứng, tài sản

1. Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản thực hiện việc tiêu hủy vật chứng,

tài sản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày được thành lập. Hội đồng tiêu hủy vật

chứng, tài sản quy định tại khoản 2 Điều 58 của Luật Thi hành án dân sự có từ

ba thành viên trở lên, làm việc theo nguyên tắc tập trung, thảo luận tập thể và

quyết định theo đa số. Quyết định của Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản phải

được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp kết quả biểu

quyết bằng nhau thì Chủ tịch Hội đồng có quyền quyết định cuối cùng.

Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản có nhiệm vụ tiếp nhận vật chứng, tài

sản; xem xét, đối chiếu vật chứng, tài sản với nội dung bản án, quyết định, biên

bản thu giữ ban đầu và quyết định hình thức tiêu hủy vật chứng, tài sản.

2. Việc tiêu hủy vật chứng, tài sản được thực hiện bằng hình thức đốt cháy,

đập vỡ, chôn lấp hoặc bằng hình thức phù hợp khác do Hội đồng tiêu hủy vật

chứng, tài sản quyết định. Việc tiêu hủy vật chứng, tài sản có thể được thực

hiện tại nơi đang bảo quản, lưu giữ vật chứng, tài sản.

Trường hợp tiêu hủy các loại hóa chất độc hại hoặc các vật chứng, tài sản

khác mà cần thiết phải có trang thiết bị chuyên dùng thì Chấp hành viên ký hợp

đồng với cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện tiêu hủy vật chứng, tài sản để thực hiện

việc tiêu hủy bảo đảm an toàn không ảnh hưởng đến môi trường nơi tiêu hủy.

Việc tiêu hủy vật chứng, tài sản phải lập thành biên bản, ghi rõ hiện trạng của

vật chứng, tài sản tiêu hủy, họ tên, có chữ ký của các thành viên Hội đồng tiêu hủy.

Điều 41Trả lại tiền, tài sản cho đương sự

Điều 41. Trả lại tiền, tài sản cho đương sự

1. Trường hợp trả lại vật chứng, tài sản cho đương sự tại nơi đang bảo

quản, lưu giữ thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự về thời gian, địa điểm

trả vật chứng, tài sản. Việc trả lại vật chứng, tài sản phải có sự tham gia của

Chấp hành viên, người được nhận vật chứng, tài sản.

2. Trường hợp trả tiền mà đương sự không đến nhận hoặc không cung cấp

số tài khoản nhận tiền theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án

dân sự thì Chấp hành viên lập bảng kê chi tiết và gửi theo hình thức tiết kiệm

không kỳ hạn tại ngân hàng thương mại đối với số tiền lớn hơn 02 lần mức

lương tối thiểu tháng theo vùng nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở, đối

với số tiền bằng 02 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng trở xuống thì gửi

vào tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước hoặc tài khoản mở tại ngân hàng thương

mại và thông báo cho họ biết.

Cơ quan thi hành án dân sự áp dụng quy định về các hình thức thanh toán

tiền qua chuyển khoản, thông qua phương tiện thanh toán điện tử khác được

pháp luật công nhận, trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc qua dịch vụ

bưu chính theo quy định tại khoản 5 Điều 30 Nghị định này để trả lại tiền cho

đương sự.

3. Đối với tiền, tài sản mà bản án, quyết định của Tòa án tuyên tạm giữ để

bảo đảm thi hành án nhưng hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà người được

thi hành án không yêu cầu thi hành án và người phải thi hành án đã thi hành

xong khoản thu cho ngân sách nhà nước thì tiền, tài sản đó được trả lại cho

người phải thi hành án. Thủ tục trả lại tiền, tài sản trong trường hợp này được

thực hiện theo quy định tại Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự và quy định

pháp luật khác có liên quan.

4. Sau khi đã chuyển nộp số tiền vào ngân sách nhà nước theo quy định tại

khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự mà đương sự chứng minh được

do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng dẫn đến

không thể nhận tiền, tài sản thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục

thoái thu để trả lại cho đương sự.

5. Quyết định tiêu hủy tài sản quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật Thi

hành án dân sự phải được thông báo cho người có tài sản bị tiêu hủy. Trước khi

thực hiện việc tiêu hủy mà người có tài sản đến nhận tài sản thì Chấp hành viên

trả lại tài sản cho họ. Người có tài sản phải chịu các chi phí bảo quản, xử lý tài

sản (nếu có).

Mục 3

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM,

BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN

Điều 42Áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án

Điều 42. Áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án

1. Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi

hành án; quyết định xử lý tài sản ủy thác; nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của

người phải thi hành án, người khác thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều

4 và khoản 8 Điều 25 của Luật Thi hành án dân sự; yêu cầu bằng văn bản của

đương sự và tình hình thực tế để lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm, biện

pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp.

2. Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do Luật

Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng

chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết

Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là

người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng

đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.

3. Trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân

khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương trước khi tổ chức cưỡng chế thi

hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an

toàn xã hội tại địa bàn theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 10 của Luật

Thi hành án dân sự.

4. Khi thực hiện kiểm tra hiện trạng, đo vẽ, thẩm định giá, xác định giá,

bán tài sản, giao tài sản hoặc các trường hợp cần thiết khác, Chấp hành viên

được áp dụng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự và

Điều 53 Nghị định này.

5. Chấp hành viên không áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng

chế đối với tài sản đang bị thu giữ, xử lý theo quy định của Luật Các tổ chức

tín dụng hoặc đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế

theo quy định của pháp luật và thực hiện như sau:

a) Trường hợp tài sản để thi hành án đang bị thu giữ, xử lý theo quy định

của Luật Các tổ chức tín dụng thì cơ quan thi hành án dân sự có văn bản thông

báo cho tổ chức tín dụng về nghĩa vụ của người phải thi hành án. Tổ chức tín

dụng đang thu giữ, xử lý tài sản có trách nhiệm thông báo kết quả xử lý tài sản

cho cơ quan thi hành án dân sự, chuyển số tiền còn lại (nếu có) cho cơ quan thi

hành án dân sự trong thời hạn 24 giờ kể từ khi xử lý tài sản;

b) Trường hợp tài sản đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp

cưỡng chế thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo cho cơ

quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế biết về nghĩa vụ của người

phải thi hành án để phối hợp xử lý.

6. Trường hợp hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác là người phải thi

hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm,

biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của các thành viên trong hộ kinh doanh, hộ

gia đình, tổ hợp tác trong trường hợp tài sản chung không đủ để thi hành án, trừ

trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác.

Trường hợp doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp

hợp tác xã và hợp tác xã là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân

sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản

của doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã,

hợp tác xã đó. Trường hợp doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh là người

phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo

đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành

viên hợp danh công ty hợp danh.

Trường hợp cộng đồng dân cư là người phải thi hành án thì cơ quan thi

hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối

với tài sản chung của cộng đồng dân cư.

7. Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành

án; quyết định hủy bỏ, chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng

chế thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và

các cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:

a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện quyết định áp dụng

biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án;

b) Đối với quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thì gửi cho Ủy ban

nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án, trừ quyết định khấu trừ tiền

trong tài khoản và quyết định trừ vào thu nhập;

c) Cơ quan có thẩm quyền đăng ký tài sản, cơ quan đăng ký biện pháp bảo

đảm (nếu có) và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

8. Trường hợp người được thi hành án là người yêu cầu thi hành án và đang

quản lý, bảo quản, lưu giữ, nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử

dụng đất của người phải thi hành án thì trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế,

Chấp hành viên yêu cầu người đó giao nộp giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân

sự. Sau khi đã yêu cầu ít nhất 02 lần mà người đó không thực hiện thì Chấp hành

viên không xử lý tài sản và thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị

định này.

Trường hợp người được thi hành án đó giao nộp giấy tờ về quyền sở hữu

tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân

sự thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 11

Nghị định này.

9. Trường hợp tài sản không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm

giảm đáng kể giá trị của tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 72 của Luật

Thi hành án dân sự là trường hợp tài sản duy nhất của người phải thi hành án

lớn hơn hoặc lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi

hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm

đáng kể giá trị của tài sản.

10. Chấp hành viên không áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng

chế đối với tài sản của người phải thi hành án là đối tượng được bảo đảm tài

chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 88 Nghị

định này.

Điều 43Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Điều 43. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản đang gửi giữ

quy định tại Điều 67 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm Kho bạc Nhà nước,

tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thành viên lưu ký, doanh

nghiệp công nghệ số và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản,

tiền gửi và tài sản số, tài sản khác trong tài khoản của người phải thi hành án.

Quyết định phong tỏa tài khoản phải xác định rõ số tiền phải thi hành án

và các chi phí thi hành án tính đến thời điểm có quyết định phong tỏa.

2. Sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản, cơ quan, tổ chức, cá

nhân đang quản lý tài khoản phải thực hiện phong tỏa theo quy định sau đây:

a) Trường hợp tại thời điểm phong tỏa mà số tiền, giá trị tài sản trong tài

khoản bằng hoặc lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án và chi phí thi hành án thì

phong tỏa số tiền, phần tài sản tương ứng với nghĩa vụ thi hành án và chi phí

thi hành án ngay sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản;

b) Trường hợp tại thời điểm phong tỏa mà số tiền, giá trị tài sản trong tài

khoản nhỏ hơn nghĩa vụ phải thi hành án và chi phí thi hành án hoặc không xác

định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản

trong tài khoản ngay sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản; trường

hợp phát sinh tiền, tài sản trong tài khoản thì phong tỏa tiếp số tiền, tài sản theo

quy định tại khoản này;

c) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thực hiện việc phong tỏa thì cơ quan, tổ

chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thông báo cho cơ quan thi hành án

dân sự về kết quả thực hiện;

d) Không thực hiện phong tỏa đối với các tài khoản quy định tại khoản 5

Điều 49 Nghị định này.

3. Trường hợp Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án giao

trực tiếp văn bản mà người đại diện theo pháp luật hoặc người có trách nhiệm

nhận văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản không

nhận hoặc không có người nhận văn bản thì Chấp hành viên, công chức làm công

tác thi hành án lập biên bản, có chữ ký của người chứng kiến và tiến hành niêm

yết quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản tại trụ sở cơ quan, tổ chức đó.

Người đại diện theo pháp luật hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản

của cơ quan, tổ chức không nhận quyết định phải chịu trách nhiệm theo quy

định của pháp luật và phải bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra.

4. Chấp hành viên có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích các thông tin về

tài khoản, tài sản của người phải thi hành án bị áp dụng biện pháp bảo đảm.

Điều 44Tạm giữ tài sản, giấy tờ

Điều 44. Tạm giữ tài sản, giấy tờ

1. Khi tạm giữ tài sản, giấy tờ phải lập biên bản có chữ ký của Chấp hành

viên và người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ. Biên bản tạm giữ tài sản,

giấy tờ phải được giao cho người quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ.

2. Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải ghi rõ tên người bị tạm giữ tài sản,

giấy tờ; loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ; số lượng, khối lượng, kích thước và các

đặc điểm khác của tài sản, giấy tờ bị tạm giữ.

Tài sản tạm giữ là tiền mặt thì phải ghi rõ số lượng tờ, mệnh giá các loại

tiền, nếu là ngoại tệ thì phải ghi là tiền nước nào và trong trường hợp cần thiết

còn phải ghi cả số sê ri trên tiền.

Tài sản tạm giữ là kim khí quý, đá quý phải niêm phong trước mặt người

bị tạm giữ tài sản hoặc thân nhân của họ. Trên niêm phong phải ghi rõ loại tài

sản, số lượng, khối lượng và các đặc điểm khác của tài sản đã niêm phong, có

chữ ký của Chấp hành viên, người bị tạm giữ hoặc thân nhân của họ. Việc niêm

phong phải ghi vào biên bản tạm giữ tài sản.

Tài sản, giấy tờ tạm giữ được bảo quản theo quy định tại Điều 40 của Luật

Thi hành án dân sự.

3. Khi trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ, Chấp hành viên yêu cầu người đến

nhận xuất trình các giấy tờ chứng minh là người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ hoặc

có giấy ủy quyền hợp lệ.

Chấp hành viên yêu cầu người đến nhận kiểm tra về số lượng, khối lượng,

kích thước và các đặc điểm khác của tài sản, giấy tờ bị tạm giữ dưới sự chứng

kiến của người được giao bảo quản. Việc trả lại tài sản, giấy tờ phải lập thành

biên bản.

Trường hợp trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ mà đương sự không nhận thì cơ

quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại Điều 59 của Luật Thi hành án

dân sự.

4. Trường hợp người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ hoặc người đang quản lý,

sử dụng tài sản, giấy tờ hoặc thân nhân của họ không ký vào biên bản thì phải

có chữ ký của người chứng kiến.

Điều 45Tạm hoãn xuất cảnh

Điều 45. Tạm hoãn xuất cảnh

1. Trường hợp khác quy định tại điểm d khoản 1 Điều 70 của Luật Thi

hành án dân sự bao gồm:

a) Có căn cứ không bị tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của pháp luật về

xuất nhập cảnh;

b) Là người nước ngoài phạm tội ít nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo

hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam, có đơn cam kết thực hiện nghĩa

vụ sau khi về nước.

Đơn cam kết phải có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt

Nam của nước mà người đó có quốc tịch về việc đôn đốc người đó thực hiện

nghĩa vụ thi hành khoản thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp

luật Việt Nam;

c) Có văn bản của cơ quan công an hoặc cơ quan đại diện ngoại giao đề

nghị cho xuất cảnh trong trường hợp cá nhân là người phạm tội nghiêm trọng,

rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không

có tài sản, thu nhập tại Việt Nam nhưng không được người được thi hành án

cho xuất cảnh hoặc không xác định được địa chỉ của người được thi hành án

hoặc người được thi hành án là người nước ngoài đã về nước và các trường hợp

đặc biệt khác.

2. Cơ quan, tổ chức đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định thì việc

tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng đối với người đại diện theo pháp luật của cơ

quan, tổ chức đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trường hợp nhận

được thông báo về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ

chức hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc khi căn cứ tạm hoãn xuất

cảnh không còn hoặc thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 70 của

Luật Thi hành án dân sự và khoản 1 Điều này thì cơ quan thi hành án dân sự

gửi văn bản đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh để điều chỉnh thông tin.

Điều 46Xây dựng kế hoạch cưỡng chế

Điều 46. Xây dựng kế hoạch cưỡng chế

1. Trước khi ban hành kế hoạch cưỡng chế thi hành án, cơ quan thi hành

án dân sự có văn bản gửi cơ quan công an cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế để

thống nhất các nội dung, yêu cầu của việc cưỡng chế.

2. Văn bản trao đổi bao gồm các nội dung chính sau đây:

a) Họ tên và địa chỉ của người bị cưỡng chế;

b) Điều kiện, kết quả thi hành án của người bị cưỡng chế;

c) Dự kiến thời gian, địa điểm tiến hành cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế

cần áp dụng;

d) Tóm tắt nội dung vụ việc cần cưỡng chế; tính chất phức tạp của vụ việc

(đặc điểm địa bàn, tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, diễn biến tâm lý,

thái độ, khả năng chống đối của người bị cưỡng chế và gia đình người bị cưỡng

chế và các nội dung khác có liên quan);

đ) Yêu cầu cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự về các nội dung cần phối

hợp; dự kiến số lượng người cần tham gia bảo vệ cưỡng chế; các trang thiết bị,

công cụ, phương tiện cần thiết để phục vụ cho việc bảo vệ cưỡng chế và dự trù

kinh phí chi cho việc bảo vệ cưỡng chế.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trao đổi,

thủ trưởng cơ quan công an cấp xã phải trả lời về các nội dung đề nghị phối

hợp bảo vệ cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự.

Trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến

an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương hoặc liên quan đến nhiều địa bàn

cấp xã thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của

cơ quan thi hành án dân sự, Thủ trưởng cơ quan công an cấp xã báo cáo cơ

quan công an cấp tỉnh để chỉ đạo. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày

nhận được báo cáo của công an cấp xã, công an cấp tỉnh phải có văn bản trả lời

và cho ý kiến về nội dung đề nghị phối hợp bảo vệ cưỡng chế. Công an cấp tỉnh

chỉ đạo việc bảo vệ cưỡng chế của công an cấp xã.

4. Trường hợp cơ quan công an có ý kiến khác về nội dung, yêu cầu của

việc cưỡng chế thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Trưởng Ban

Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh; Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân

khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương xem xét quyết định và chỉ đạo

việc cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.

5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thống nhất ý kiến với cơ

quan công an hoặc có ý kiến chỉ đạo của Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân

sự cấp tỉnh hoặc của Tư lệnh quân khu và tương đương thì Chấp hành viên phải

dự thảo xong kế hoạch cưỡng chế trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự

xem xét, phê duyệt.

6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng

chế của cơ quan thi hành án dân sự, công an cấp xã phải xây dựng kế hoạch và lập

phương án bảo vệ cưỡng chế. Việc xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ

cưỡng chế thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.

Kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế đã được phê duyệt phải gửi cho

cơ quan thi hành án dân sự trước khi tiến hành cưỡng chế 05 ngày làm việc;

đồng thời gửi cho cơ quan, tổ chức khác có liên quan để kịp thời triển khai,

thực hiện các nhiệm vụ được phân công.

Điều 47Phối hợp thực hiện cưỡng chế

Điều 47. Phối hợp thực hiện cưỡng chế

1. Lực lượng công an có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn, ngăn chặn, xử

lý các hành vi chống đối, cản trở trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế.

2. Trường hợp cần có sự phối hợp của nhiều lực lượng hoặc cơ quan, tổ

chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân

sự tỉnh, thành phố đề nghị Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh chỉ

đạo các cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp tham gia cưỡng chế thi hành án.

3. Trước thời điểm cưỡng chế ít nhất 01 ngày làm việc, cơ quan thi hành án

dân sự phải tổ chức cuộc họp với cơ quan công an và cơ quan, tổ chức có liên quan

để triển khai kế hoạch cưỡng chế, kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế.

4. Tại buổi cưỡng chế, việc phối hợp được thực hiện như sau:

a) Lực lượng công an được phân công bảo vệ cưỡng chế thi hành án phải

có mặt từ khi bắt đầu đến khi kết thúc vụ việc cưỡng chế để duy trì trật tự và

bảo đảm an toàn trong suốt quá trình diễn ra cưỡng chế.

Các lực lượng chức năng thuộc cơ quan công an và các lực lượng khác

được giao nhiệm vụ phối hợp bảo vệ cưỡng chế phải tuân thủ mệnh lệnh và

điều hành trực tiếp của người chỉ huy lực lượng công an tham gia bảo vệ

cưỡng chế;

b) Lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế trong phạm vi chức năng, nhiệm

vụ của mình có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của Chấp hành viên chủ trì,

điều hành việc cưỡng chế.

5. Cơ quan thi hành án dân sự, công an cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo,

kiểm tra, giám sát cơ quan, đơn vị cấp dưới thuộc quyền thực hiện việc phối

hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự.

6. Cơ quan thi hành án cấp quân khu đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi

tổ chức cưỡng chế cử đại diện tham gia cưỡng chế, đồng thời phối hợp với lực

lượng công an xã để tham gia bảo vệ cưỡng chế.

Điều 48Phối hợp giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình

Điều 48. Phối hợp giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình

bảo vệ cưỡng chế

1. Trong quá trình diễn ra cưỡng chế, chỉ huy lực lượng công an bảo vệ

cưỡng chế và các lực lượng tham gia cưỡng chế phải thông báo kịp thời cho

Chấp hành viên chủ trì, điều hành buổi cưỡng chế biết những diễn biến phức

tạp về an ninh, trật tự an toàn xã hội để có biện pháp xử lý.

2. Khi có tình huống xảy ra thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ

quan nào thì cơ quan đó chủ trì xử lý, các cơ quan khác trong phạm vi chức

năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp.

3. Trường hợp có căn cứ cho rằng vụ việc có khả năng diễn biến phức tạp,

gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội mà lực lượng tiến hành

cưỡng chế chưa có biện pháp khắc phục, giải quyết thì cơ quan công an có thể

đề nghị người chủ trì thực hiện việc cưỡng chế xem xét, quyết định tạm dừng

việc cưỡng chế thi hành án.

Điều 49Khấu trừ tiền trong tài khoản

Điều 49. Khấu trừ tiền trong tài khoản

1. Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản phải ghi rõ các nội dung sau:

a) Ngày, tháng, năm ban hành quyết định;

b) Căn cứ ban hành quyết định;

c) Tên tài khoản, số tài khoản của người phải thi hành án;

d) Tên, địa chỉ Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng

nước ngoài hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản;

đ) Số tiền phải khấu trừ;

e) Tên tài khoản, số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận khoản

tiền bị khấu trừ;

g) Thời hạn thực hiện việc khấu trừ.

2. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có tài khoản tại nhiều Kho bạc Nhà

nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc cơ quan, tổ chức,

cá nhân khác đang quản lý tài khoản khác nhau thì Chấp hành viên căn cứ số

dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài

khoản đối với một hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền phải thi hành

án và chi phí thi hành án.

3. Ngay sau khi nhận được quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản, Kho

bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan, tổ

chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản có trách nhiệm thực hiện quyết định

khấu trừ tiền trong tài khoản.

4. Đối với tài khoản của người phải thi hành án mở tại Kho bạc Nhà nước

thì chỉ thực hiện khấu trừ đối với: kinh phí thực hiện các khoản thu, chi dịch

vụ, liên doanh, liên kết của các đơn vị sự nghiệp; các quỹ tài chính nhà nước

ngoài ngân sách; các khoản tiền gửi khác của cơ quan, đơn vị, tổ chức và tiền

gửi của cá nhân mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.

5. Không khấu trừ đối với các tài khoản: Quỹ ngân sách nhà nước các cấp;

kinh phí ngân sách nhà nước (bao gồm cả kinh phí trên tài khoản tiền gửi dự

toán, đầu tư; tiền gửi thu phí, lệ phí theo quy định tại Luật Phí, lệ phí) giao cho

các đơn vị sử dụng ngân sách, các chủ đầu tư, ban quản lý dự án; các khoản

tạm thu, tạm giữ giao cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

117 điều

Trích dẫn văn bản này

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự (Công báo Chính phủ). Truy cập qua LawPlayer, https://lawplayer.com/vn/act/vn-congbao-469524

Nguồn: Công báo điện tử nước CHXHCN Việt Nam (congbao.chinhphu.vn), Văn phòng Chính phủ. Official legal texts are excluded from copyright under Article 8 of the Law on Intellectual Property of Vietnam. 再發布須標示來源(Ghi rõ nguồn 'Công báo điện tử' 條款)。

VN-OfficialText-IPLawExempt

本頁資料來源:vbpl.vn (Bộ Tư pháp)·整理提供:法律人 LawPlayer· lawplayer.com