Điều 30. Thủ tục thanh toán tiền thi hành án
1. Trường hợp nhiều người được nhận chung một khoản tiền theo bản án,
quyết định nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì Chấp
hành viên thực hiện thủ tục về thi hành án đối với những người đã yêu cầu,
thanh toán tiền cho một trong những người được thi hành án đã yêu cầu hoặc
người được thi hành án tại thời điểm thanh toán tiền và thu phí thi hành án đối
với người được nhận tiền. Trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ
thể theo bản án, quyết định nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi
hành án thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục về thi hành án đối với những
người đã yêu cầu, tổ chức giao tài sản cho những người được thi hành án đã
yêu cầu hoặc những người được thi hành án có mặt tại thời điểm trả tài sản và
thu phí thi hành án đối với những người được nhận tài sản. Quyền và lợi ích
hợp pháp của những người được thi hành án khác theo bản án, quyết định đó
được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật về dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định tuyên chia tài sản chung, chia thừa kế; chia
tài sản trong ly hôn hoặc các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản
thì những người được nhận tiền, tài sản phải nộp phí thi hành án tương ứng với
giá trị tiền, tài sản họ thực nhận.
2. Trường hợp thanh toán tiền khi xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên
kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể theo quy định tại khoản 3 Điều 54
của Luật Thi hành án dân sự có nhiều người được thi hành án nhưng chỉ một
hoặc một số người yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thanh toán
cho những người đã yêu cầu theo tỷ lệ mà họ được nhận, số tiền còn lại gửi vào
ngân hàng thương mại theo hình thức tiền gửi kỳ hạn 01 tháng, đồng thời thông
báo cho những người chưa yêu cầu về quyền yêu cầu thi hành án, trừ trường
hợp đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà cơ quan thi hành án dân sự không
nhận được yêu cầu thì số tiền đã gửi và tiền lãi được thanh toán tiếp cho những
người đã có yêu cầu thi hành án trong bản án, quyết định đó; số tiền còn lại
được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành
án khác (nếu có) tính đến thời điểm thanh toán hoặc trả cho người có tài sản bị
kê biên, xử lý.
3. Trường hợp kéo dài thời hạn thanh toán tiền thi hành án theo quy định
tại khoản 6 Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:
a) Việc thi hành án có số người được thi hành án nhiều, số tiền thu được ít
và cơ quan thi hành án dân sự đang tiếp tục xử lý tài sản khác để thi hành án;
thời hạn kéo dài không quá 45 ngày;
b) Có quyết định của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chưa chi trả tiền thi
hành án theo quy định của pháp luật;
c) Có khiếu nại, tố cáo, kháng nghị, kiến nghị liên quan đến việc xử lý số
tiền, tài sản đó;
d) Xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách
quan dẫn đến không thể thanh toán đúng thời hạn theo quy định của Luật Thi
hành án dân sự và Nghị định này.
4. Thời hạn thanh toán tiền quy định tại các điểm b, c và d khoản 3 Điều
này không quá 10 ngày kể từ ngày căn cứ kéo dài thời hạn thanh toán tiền không
còn hoặc kể từ ngày nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
5. Số tiền thi hành án thu được phải nộp vào tài khoản của cơ quan thi hành
án dân sự mở tại ngân hàng thương mại hoặc mở tại Kho bạc Nhà nước theo
quy định của pháp luật. Cơ quan thi hành án dân sự mở tài khoản thanh toán tại
ngân hàng thương mại để thu, chi tiền thi hành án.
Việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện bằng hình thức chuyển
khoản hoặc thông qua phương tiện thanh toán điện tử khác được pháp luật công
nhận từ tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự; trường hợp người được nhận
tiền là cá nhân không cung cấp số tài khoản nhận tiền thì thanh toán trực tiếp
tại cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì việc chi trả tiền
thi hành án chỉ thực hiện bằng chuyển khoản vào tài khoản của cơ quan, tổ chức
đó, trừ trường hợp bản án, quyết định có nội dung khác. Trường hợp tại thời
điểm thanh toán mà cơ quan, tổ chức đó đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải
thể, chuyển đổi loại hình, sắp xếp lại, kết thúc hoạt động hoặc trường hợp khác
mà không xác định được số tài khoản hoặc người được nhận tiền thì số tiền thi
hành án được xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án
dân sự.
Đối với khoản tiền chi trả cho người được nhận là cá nhân, sau khi hết thời
hạn thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự
mà người được nhận tiền không đến nhận nếu đã xác định được địa chỉ rõ ràng
của họ và khoản tiền có giá trị nhỏ hơn 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo
vùng nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở thì cơ quan thi hành án dân sự
lập phiếu chi và gửi tiền cho họ qua dịch vụ bưu chính. Trường hợp doanh
nghiệp bưu chính trả lại tiền do không có người nhận thì cơ quan thi hành án
dân sự xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự và
khoản 2 Điều 41 Nghị định này.
6. Trường hợp bản án, quyết định tuyên trả tiền bằng ngoại tệ cho người
được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án thực hiện như sau:
a) Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thu ngoại tệ thì thanh toán cho
người được thi hành án bằng ngoại tệ;
b) Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thu tiền Việt Nam đồng thì trong
thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thu được tiền, Chấp hành viên đổi số tiền
thu được sang ngoại tệ theo giá bán của Ngân hàng thương mại để thanh toán
cho người được thi hành án; trừ trường hợp đương sự thoả thuận về việc trả
bằng tiền Việt Nam đồng.
7. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền mà chưa giao tài sản
cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án thì
cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng
thương mại theo hình thức tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 01 tháng cho đến khi giao
được tài sản.
Phần lãi từ tiền gửi phát sinh trong thời hạn giao tài sản quy định tại Điều 67
Nghị định này được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án; phần lãi từ
tiền gửi phát sinh ngoài thời hạn giao tài sản hoặc trong trường hợp kết quả đấu
giá tài sản bị hủy thuộc về người mua tài sản hoặc người nhận tài sản.
8. Cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền thi hành án
đã thu theo hình thức tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 01 tháng tại ngân hàng thương
mại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thi hành án dân sự có
quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án hoặc thông báo về việc tạm đình chỉ
thi hành án để cơ quan có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định theo thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc kể từ ngày có quyết định giám đốc thẩm, tái
thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm
lại hoặc xét xử phúc thẩm lại.
Phần lãi tiền gửi tiết kiệm được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành
án; trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản thi hành án hoặc giao tài sản
cho người được thi hành án nhận để trừ vào tiền thi hành án thì phần lãi tiền
gửi tiết kiệm thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều này.
9. Chi phí chuyển tiền thi hành án do người được nhận tiền chịu.
10. Việc quản lý, sử dụng tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự mở tại
ngân hàng thương mại thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.