法律人 LawPlayer logo

資料由法律人 LawPlayer整理提供·Pháp luật Việt Nam / LawPlayer, từ vbpl.vn (Bộ Tư pháp)

van-ban-hop-nhat

hợp nhất Luật Tư pháp người chưa thành niên

Số hiệu
105/VBHN-VPQH
Ngày ban hành
19 tháng 5, 2026
Số điều
180
Điều Lời mở đầu

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

LUẬT

TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30 tháng 11

năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, được sửa

đổi, bổ sung bởi:

1. Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi,

bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật

Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa

án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;

2. Luật số 05/2026/QH16 ngày 23 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng

01 năm 2027.

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Tư pháp người chưa thành niên1.

Phần thứ nhất

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật

Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối

thoại tại Tòa án có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung

một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự số

92/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Bộ luật số 45/2019/QH14, Luật số

59/2020/QH14, Luật số 13/2022/QH15, Luật số 19/2023/QH15, Luật số 34/2024/QH15 và Luật

số 46/2024/QH15; Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một

số điều theo Luật số 55/2019/QH14 và Luật số 34/2024/QH15; Luật Tư pháp người chưa thành

niên số 59/2024/QH15; Luật Phá sản số 51/2014/QH13 và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

số 58/2020/QH14.”.

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý có căn cứ

ban hành như sau:

“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung

một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số

11/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 53/2024/QH15 và Luật số

59/2024/QH15.”.

Chương I

PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

Điều 1Phạm vi điều chỉnh

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về xử lý chuyển hướng, hình phạt đối với người chưa

thành niên phạm tội; thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên là người bị tố

giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người

bị buộc tội, bị hại, người làm chứng; thi hành án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng

đối với người chưa thành niên; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan,

tổ chức, cá nhân, gia đình trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên.

Điều 2Áp dụng Luật Tư pháp người chưa thành niên và các luật có

Điều 2. Áp dụng Luật Tư pháp người chưa thành niên và các luật có

liên quan

Việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, giải quyết vụ án

hình sự, xử lý chuyển hướng, thi hành án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng đối với

người chưa thành niên được áp dụng theo quy định của Luật này và theo quy định

của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, luật khác

không trái với quy định của Luật này.

Điều 3Giải thích từ ngữ

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Người chưa thành niên phạm tội là người phạm tội theo quy định của Bộ

luật Hình sự trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.

2. Người chưa thành niên là người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị

tạm giữ, bị can, bị cáo từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.

3. Người chưa thành niên là bị hại là người dưới 18 tuổi trực tiếp bị thiệt hại

về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

4. Người chưa thành niên là người làm chứng là người dưới 18 tuổi biết được

những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có

thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.

5. Người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng gồm người chấp hành biện

pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng và người phải chấp hành biện pháp giáo dục

tại trường giáo dưỡng, học sinh trường giáo dưỡng.

6. Người đại diện của người chưa thành niên bao gồm:

a) Cha, mẹ;

b) Người giám hộ;

c) Người do Tòa án chỉ định.

7. Tư pháp người chưa thành niên là các quy định về chính sách, biện pháp

xử lý đối với người chưa thành niên; thủ tục thân thiện trong xử lý chuyển hướng,

tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi

hành án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên; nhiệm vụ,

quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

8. Biện pháp xử lý chuyển hướng là biện pháp giám sát, giáo dục, phòng ngừa

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, bao gồm các biện pháp xử lý

chuyển hướng tại cộng đồng quy định từ khoản 1 đến khoản 11 Điều 36 của Luật

này và biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại khoản 12 Điều 36

của Luật này.

9. Thủ tục xử lý chuyển hướng là trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp

dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên là bị can, bị

cáo theo quy định của Luật này.

10. Người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp người chưa thành

niên (sau đây gọi chung là người làm công tác xã hội) bao gồm công chức, viên

chức, người lao động làm công tác xã hội, người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp

xã, công chức văn hóa - xã hội cấp xã và người làm công tác xã hội khác theo quy

định của pháp luật.

11. Báo cáo điều tra xã hội là báo cáo do người làm công tác xã hội xây dựng

để cung cấp thông tin về nhân thân, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, tình

hình học tập, tình trạng sức khỏe, mức độ trưởng thành của người chưa thành niên

và thông tin khác có liên quan ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người chưa

thành niên là bị can, bị cáo.

12. Kế hoạch xử lý chuyển hướng là kế hoạch do người làm công tác xã hội

xây dựng để đề xuất việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng,

việc tổ chức hỗ trợ, giám sát, giáo dục người chưa thành niên chấp hành biện pháp

xử lý chuyển hướng tại cộng đồng.

Điều 4Kinh phí, chi phí, hỗ trợ hoạt động tư pháp người chưa thành niên

Điều 4. Kinh phí, chi phí, hỗ trợ hoạt động tư pháp người chưa thành niên

1. Kinh phí cho hoạt động tư pháp người chưa thành niên được bảo đảm từ ngân

sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

2. Ngân sách nhà nước bảo đảm các nội dung sau đây:

a) Cơ sở vật chất để thực hiện thủ tục tố tụng thân thiện đối với người chưa

thành niên;

b) Tổ chức thi hành biện pháp giám sát điện tử;

c) Tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại

cộng đồng;

d) Tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;

đ) Cơ sở vật chất của trường giáo dưỡng, trại giam riêng, phân trại, khu giam

giữ dành riêng cho người chưa thành niên; chế độ ăn, mặc, ở, đồ dùng sinh hoạt,

chăm sóc y tế, học văn hóa, giáo dục hướng nghiệp, học nghề, lao động, sinh hoạt

văn hóa, văn nghệ và vui chơi giải trí đối với học sinh trường giáo dưỡng và phạm

nhân là người chưa thành niên;

e) Phần chi của Quỹ Bảo trợ trẻ em cho hoạt động tư pháp người chưa thành niên;

g) Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho người làm công tác xã hội,

người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;

h) Chi phí cho người làm công tác xã hội tham gia tố tụng, người trực tiếp

giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, người được

chỉ định giúp đỡ người chưa thành niên tái hòa nhập cộng đồng; chi phí cho

chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học, đại diện cơ sở giáo dục, cơ sở giáo

dục nghề nghiệp, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành

viên của Mặt trận và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia vào quá trình giải

quyết vụ việc, vụ án theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền;

i) Các nội dung khác cho hoạt động tư pháp người chưa thành niên được

ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật có liên quan.

3. Trường giáo dưỡng được tiếp nhận sự giúp đỡ về vật chất của chính quyền

địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, cá nhân, tổ chức nước ngoài

để tổ chức dạy văn hóa, giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề, mua sắm đồ dùng học

tập và sinh hoạt cho học sinh.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 5Bảo đảm lợi ích tốt nhất

Điều 5. Bảo đảm lợi ích tốt nhất

1. Khi giải quyết vụ việc, vụ án có người chưa thành niên phải bảo đảm lợi

ích tốt nhất của họ.

2. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội chỉ

trong trường hợp cần thiết và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa

chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

3. Việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội phải căn cứ vào hành

vi phạm tội, nhân thân, độ tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của họ

về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện

gây ra tội phạm và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

4. Bảo đảm an toàn cho người chưa thành niên trong quá trình tố tụng, thi

hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, thi hành án phạt tù theo quy định

của pháp luật.

5. Hỗ trợ kịp thời và nhanh nhất có thể đối với người chưa thành niên.

Điều 6Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện

Điều 6. Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện

Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phải bảo đảm đơn giản, thân

thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức

của người chưa thành niên.

Điều 7Đối xử bình đẳng

Điều 7. Đối xử bình đẳng

1. Bảo đảm công bằng, không kỳ thị, không phân biệt đối xử đối với người

chưa thành niên.

2. Quan tâm đến nhu cầu chính đáng của người chưa thành niên về giới tính,

người chưa thành niên là người dân tộc thiểu số, đối tượng dễ bị tổn thương.

Điều 8Quyền được thông tin đầy đủ, kịp thời

Điều 8. Quyền được thông tin đầy đủ, kịp thời

Người chưa thành niên có quyền được thông tin đầy đủ, kịp thời bằng ngôn

từ đơn giản, thân thiện, dễ hiểu về những nội dung liên quan đến việc giải quyết

vụ việc, vụ án.

Điều 9Bảo đảm quyền có người đại diện

Điều 9. Bảo đảm quyền có người đại diện

Người chưa thành niên được bảo đảm có người đại diện tham gia trong quá

trình giải quyết vụ việc, vụ án.

Điều 10Giải quyết nhanh chóng, kịp thời

Điều 10. Giải quyết nhanh chóng, kịp thời

Giải quyết vụ việc, vụ án có người chưa thành niên phải nhanh nhất có thể,

hạn chế việc gia hạn và ưu tiên áp dụng thủ tục rút gọn.

Điều 11Ưu tiên áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

Điều 11. Ưu tiên áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

1. Biện pháp xử lý chuyển hướng được ưu tiên áp dụng đối với người chưa

thành niên phạm tội trong tất cả các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.

2. Việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phải phù hợp với lợi ích của

người chưa thành niên phạm tội và cộng đồng.

Điều 12Áp dụng hình phạt

Điều 12. Áp dụng hình phạt

1. Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm

giáo dục họ ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, lối

sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có tác dụng phòng ngừa và đấu tranh chống

tội phạm.

2. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu

xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo

dục, phòng ngừa. Trường hợp phải áp dụng hình phạt thì ưu tiên áp dụng hình

phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù nhưng cho hưởng

án treo.

3. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên

phạm tội.

4. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành

niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng

răn đe, phòng ngừa.

5. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội

được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội

tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

6. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

7. Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội nếu thuộc trường hợp

sau đây thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm:

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội;

b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm

trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý.

Điều 13Bảo đảm giữ bí mật cá nhân

Điều 13. Bảo đảm giữ bí mật cá nhân

1. Bí mật cá nhân của người chưa thành niên phải được tôn trọng, bảo vệ

trong suốt quá trình tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra,

truy tố, xét xử, xử lý chuyển hướng, thi hành án và tái hòa nhập cộng đồng.

2. Tòa án xét xử kín đối với vụ án hình sự có người chưa thành niên bị xâm

hại tình dục hoặc trường hợp đặc biệt khác cần bảo vệ người chưa thành niên.

3. Trường hợp người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tham gia tố

tụng thì phải bố trí phòng cách ly hoặc các biện pháp bảo vệ khác.

Điều 14Quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý, phiên dịch

Điều 14. Quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý, phiên dịch

1. Người chưa thành niên là người bị buộc tội phải có người bào chữa.

2. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo,

giải thích và bảo đảm cho người chưa thành niên là người bị buộc tội thực hiện

đầy đủ quyền bào chữa theo quy định của pháp luật.

3. Người chưa thành niên khi tham gia tố tụng hình sự được trợ giúp pháp lý

và phiên dịch miễn phí.

Điều 15Hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp

Điều 15. Hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp

cưỡng chế

1. Các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế chỉ được áp dụng đối với

người chưa thành niên trong trường hợp thật cần thiết.

2. Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên khi

có căn cứ cho rằng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên theo

dõi, rà soát, kiểm tra việc tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên bị

tạm giữ, tạm giam; nếu phát hiện không còn căn cứ hoặc không còn cần thiết

tạm giữ, tạm giam thì phải kịp thời ra quyết định hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp

ngăn chặn khác.

Điều 16Chuyên môn hóa trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên

Điều 16. Chuyên môn hóa trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên

Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán giải quyết vụ việc, vụ án có người

chưa thành niên phải là người đã được đào tạo, bồi dưỡng hoặc có kinh nghiệm

điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người chưa thành niên hoặc có hiểu

biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục người chưa thành niên.

Điều 17Bảo đảm và tôn trọng quyền tham gia, trình bày ý kiến

Điều 17. Bảo đảm và tôn trọng quyền tham gia, trình bày ý kiến

1. Người chưa thành niên có quyền tham gia, trình bày ý kiến về những vấn

đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình tố tụng. Ý kiến

trình bày của người chưa thành niên phải được tôn trọng, không bị coi là không

đáng tin cậy chỉ vì lý do tuổi của họ. Việc người chưa thành niên không nhận tội

không được coi là căn cứ để xử lý trách nhiệm nặng hơn với họ.

2. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lắng nghe ý kiến,

nguyện vọng, quan tâm đến thái độ của người chưa thành niên phù hợp với lứa

tuổi, giới tính, mức độ trưởng thành và sự phát triển của họ.

Điều 18Bảo đảm hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp xử lý

Điều 18. Bảo đảm hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp xử lý

chuyển hướng

1. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng có hiệu lực pháp luật

phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên

quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,

có trách nhiệm phối hợp và thực hiện yêu cầu, đề nghị của cơ quan, người có thẩm

quyền trong thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.

Điều 19Bảo đảm việc thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo

Điều 19. Bảo đảm việc thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo

dưỡng và thi hành án phạt tù phù hợp

1. Việc thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng và thi hành án phạt

tù phải bảo đảm người chưa thành niên được bảo vệ, giáo dục, phục hồi và tái hòa

nhập cộng đồng.

2. Trường giáo dưỡng, trại giam phải bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất phù

hợp với lứa tuổi, giới tính và sự phát triển của người chưa thành niên.

3. Người chưa thành niên chấp hành án phạt tù tại trại giam, phân trại hoặc

khu giam giữ dành riêng cho người chưa thành niên là phạm nhân.

Điều 20Bảo đảm việc tái hòa nhập cộng đồng

Điều 20. Bảo đảm việc tái hòa nhập cộng đồng

1. Bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho người chưa thành niên chấp hành

xong biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, chấp hành xong án phạt tù tái hòa

nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống, phòng ngừa phạm tội mới.

2. Bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong tái

hòa nhập cộng đồng theo quy định của pháp luật.

3. Nghiêm cấm kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người chưa thành niên chấp

hành xong biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, chấp hành xong án phạt tù.

Chương II

QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN

TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Điều 21Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên là người bị tố

Điều 21. Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên là người bị tố

giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,

người bị buộc tội

1. Người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố,

người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội có các quyền và nghĩa

vụ sau đây:

a) Các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;

b) Có người đại diện tham gia tố tụng;

c) Được sự hỗ trợ của chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học trong

trường hợp cần thiết;

d) Được thông tin đầy đủ, kịp thời bằng ngôn từ đơn giản, thân thiện, dễ hiểu

về những nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ việc, vụ án;

đ) Được bảo đảm giữ bí mật cá nhân trong suốt quá trình giải quyết vụ việc,

vụ án;

e) Được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật;

g) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này;

h) Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này.

2. Ngoài các quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này, người chưa

thành niên là bị can, bị cáo còn có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;

b) Được sự hỗ trợ của người làm công tác xã hội trong quá trình tố tụng;

c) Khiếu nại quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.

Điều 22Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên là bị hại, người

Điều 22. Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên là bị hại, người

làm chứng

1. Người chưa thành niên là bị hại có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;

b) Có người đại diện tham gia tố tụng;

c) Được sự hỗ trợ của chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học trong

trường hợp cần thiết;

d) Được thông tin đầy đủ, kịp thời bằng ngôn từ đơn giản, thân thiện, dễ hiểu

về những nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ việc, vụ án;

đ) Được bảo đảm giữ bí mật cá nhân trong suốt quá trình giải quyết vụ việc,

vụ án;

e) Được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật;

g) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này;

h) Được sự hỗ trợ của người làm công tác xã hội trong quá trình tố tụng;

i) Được bồi thường thiệt hại và hỗ trợ theo quy định của Luật này và các luật

khác có liên quan;

k) Khiếu nại quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;

l) Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này.

2. Người chưa thành niên là người làm chứng có các quyền và nghĩa vụ quy

định tại các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 1 Điều này và các quyền, nghĩa vụ

khác theo quy định của Luật này.

Điều 23Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng

Điều 23. Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng

1. Người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng có các quyền sau đây:

a) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này;

b) Được lao động, học tập, hướng nghiệp, học nghề; được tham gia chương

trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống;

c) Được trình bày nguyện vọng, kiến nghị của mình với Chủ tịch Ủy ban

nhân dân cấp xã, người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp

xử lý chuyển hướng; với Hiệu trưởng, cán bộ, giáo viên của trường giáo dưỡng;

d) Được bảo đảm giữ bí mật cá nhân trong quá trình chấp hành biện pháp xử

lý chuyển hướng;

đ) Được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong biện pháp xử lý chuyển hướng;

e) Được hướng dẫn thực hiện thủ tục khai báo tạm vắng, đăng ký thường trú,

đăng ký tạm trú khi chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

tại cộng đồng.

2. Người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;

b) Tuân thủ pháp luật, chấp hành nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập,

làm việc;

c) Chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền

trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;

d) Báo cáo tình hình chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng khi được yêu cầu;

đ) Trình diện cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu trong thời gian chấp

hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng.

3. Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 24Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên là phạm nhân

Điều 24. Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên là phạm nhân

1. Các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

2. Được bảo đảm giữ bí mật cá nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù.

3. Được học văn hóa phù hợp với trình độ theo quy định của pháp luật về

giáo dục.

4. Được tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao và vui

chơi giải trí khác do trại giam tổ chức phù hợp với lứa tuổi, giới tính.

5. Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này.

6. Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này.

Điều 25Xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội,

Điều 25. Xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội,

bị hại

1. Việc xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội, bị hại

do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của

pháp luật. Việc xác định tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu gồm: Giấy

chứng sinh, Giấy khai sinh, Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Thẻ

căn cước, Giấy chứng nhận căn cước, Hộ chiếu hoặc thông tin trong cơ sở dữ liệu

quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.

Trường hợp các giấy tờ, tài liệu hoặc thông tin trong các cơ sở dữ liệu nêu

trên có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu, thông tin này thì

cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người

đại diện, người thân thích, cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Đoàn

Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi

người đó học tập, lao động, sinh hoạt để xác minh, làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các

giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của họ.

2. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định

được chính xác thì ngày, tháng sinh được xác định như sau:

a) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy

ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh;

b) Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng

thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh;

c) Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày,

tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày,

tháng sinh;

d) Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng

thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

3. Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định

để xác định tuổi.

Điều 26Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên

Điều 26. Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên

1. Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên do Thủ tướng Chính

phủ thành lập. Thành viên Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên

do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của cơ quan thường trực

của Hội đồng.

2. Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên hoạt động theo cơ

chế phối hợp liên ngành. Thành viên Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa

thành niên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công và làm việc theo chế

độ kiêm nhiệm.

3. Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên có các nhiệm vụ,

quyền hạn sau đây:

a) Chỉ đạo, đôn đốc các bộ, ngành để giải quyết các vấn đề về tư pháp người

chưa thành niên;

b) Đề xuất phương hướng, giải pháp để thực hiện các vấn đề liên quan đến

tư pháp người chưa thành niên;

c) Phối hợp với các cơ quan của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện

kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên

của Mặt trận, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong việc thực hiện

hoạt động tư pháp người chưa thành niên;

d) Chỉ đạo, đôn đốc các bộ, ngành báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện

nhiệm vụ liên quan đến tư pháp người chưa thành niên trong báo cáo công tác

hằng năm;

đ) Chỉ đạo, đôn đốc hoạt động công tác xã hội về tư pháp người chưa thành

niên; chỉ đạo tổ chức việc công bố danh sách người làm công tác xã hội trong hoạt

động tư pháp người chưa thành niên, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

cho người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên;

e) Chỉ đạo công tác thống kê, thông tin, báo cáo về hoạt động tư pháp người

chưa thành niên;

g) Thực hiện nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ và cơ

quan có thẩm quyền.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 27Cơ quan thường trực của Hội đồng quốc gia về tư pháp người

Điều 27. Cơ quan thường trực của Hội đồng quốc gia về tư pháp người

chưa thành niên

1. Cơ quan thường trực của Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành

niên là Bộ Công an.

2. Cơ quan thường trực có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Giúp Hội đồng quốc gia về tư pháp người chưa thành niên tổ chức triển

khai thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng;

b) Định kỳ hằng năm báo cáo Chính phủ về hoạt động của Hội đồng;

c) Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và quy định khác

của pháp luật có liên quan.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 28Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Điều 28. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thực hiện

đúng quy định của pháp luật về xử lý chuyển hướng, hình phạt, thủ tục tố tụng,

trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp

của người chưa thành niên.

2. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cung cấp thông tin cần

thiết về quá trình xử lý chuyển hướng, thủ tục tố tụng, về việc thực hiện quyền,

nghĩa vụ cho người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, người đại diện,

người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Điều 29Người tiến hành tố tụng

Điều 29. Người tiến hành tố tụng

1. Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán tiến hành hoạt động tư pháp

người chưa thành niên phải đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

a) Đã được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng giải quyết các vụ án liên quan đến

người chưa thành niên;

b) Có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người

chưa thành niên;

c) Đã được đào tạo, bồi dưỡng về tâm lý học và khoa học giáo dục người

chưa thành niên.

2. Hội thẩm tham gia xét xử sơ thẩm vụ án liên quan đến người chưa thành

niên phải có ít nhất một người là giáo viên, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ

Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực tư pháp, quản lý,

đào tạo, bảo vệ, chăm sóc hoặc giáo dục đối với người chưa thành niên hoặc người

được đào tạo về tâm lý học và khoa học giáo dục người chưa thành niên.

Điều 30Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức

Điều 30. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức

thành viên của Mặt trận

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong

phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tuyên truyền, vận động

đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân thực hiện Luật này; tham gia giám sát,

phản biện xã hội trong lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên.

2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vận động các tổ chức thành viên của Mặt trận

hỗ trợ, giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên trong

hoạt động tư pháp người chưa thành niên.

Điều 31Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

Điều 31. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm sau đây:

a) Phối hợp chặt chẽ, kịp thời với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng;

b) Hỗ trợ, tạo điều kiện để người chưa thành niên thực hiện quyền, nghĩa vụ

của họ;

c) Phối hợp, trao đổi thông tin với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng;

d) Hỗ trợ người chưa thành niên tái hòa nhập cộng đồng, đào tạo nghề, hỗ

trợ việc làm cho người chưa thành niên khi đủ tuổi lao động;

đ) Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

2. Người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của người chưa thành niên; đại diện cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp,

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, cơ

quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan phải có mặt, tham gia đầy đủ các hoạt

động tố tụng và các hoạt động khác theo quyết định hoặc yêu cầu của cơ quan,

người có thẩm quyền.

3. Trường giáo dưỡng, trại giam có trách nhiệm bảo đảm thực hiện đúng quy

định của pháp luật về thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, thi hành

án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng, trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật;

bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên.

Trường giáo dưỡng, trại giam có trách nhiệm nâng cao năng lực cho đội ngũ

cán bộ, giáo viên về kỹ năng quản lý, giáo dục phù hợp với người chưa thành niên.

4. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, Đoàn luật sư có trách nhiệm bồi dưỡng,

hướng dẫn trợ giúp viên pháp lý, luật sư về kỹ năng bào chữa, bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên, kỹ năng trợ giúp pháp lý cho người

chưa thành niên.

Điều 32Người làm công tác xã hội

Điều 32. Người làm công tác xã hội

1. Người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên

phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có hiểu biết pháp luật về người chưa thành niên;

b) Đã được đào tạo hoặc bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục người

chưa thành niên hoặc có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý người chưa thành niên

hoặc có kỹ năng giao tiếp đối với người chưa thành niên.

2. Người làm công tác xã hội khi tham gia hoạt động tư pháp người chưa

thành niên có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Xây dựng báo cáo điều tra xã hội, kế hoạch xử lý chuyển hướng;

b) Tham gia hỗ trợ và can thiệp phù hợp đối với người chưa thành niên khi

có yêu cầu;

c) Tham gia phiên họp, phiên tòa theo quy định của Luật này;

d) Tham gia công tác thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển

hướng tại cộng đồng, tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên theo quy

định của pháp luật;

đ) Được thanh toán chi phí khi tham gia hoạt động tư pháp người chưa thành

niên theo quy định của pháp luật;

e) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.

3. Người làm công tác xã hội tham gia hoạt động tư pháp người chưa thành

niên theo từng vụ việc, vụ án cụ thể.

4. Một người làm công tác xã hội có thể tham gia hỗ trợ cho nhiều người bị

buộc tội hoặc nhiều bị hại nhưng không đồng thời hỗ trợ cho cả người bị buộc tội

và bị hại trong cùng một vụ án.

5. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố danh sách người làm công tác xã hội

trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên tại địa phương.

Điều 33Trách nhiệm của gia đình

Điều 33. Trách nhiệm của gia đình

1. Cha, mẹ, người chăm sóc người chưa thành niên và các thành viên khác

trong gia đình có trách nhiệm sau đây:

a) Chấp hành quy định của pháp luật và quyết định của cơ quan, người có

thẩm quyền trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên;

b) Thường xuyên liên hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm để

được hướng dẫn, trợ giúp trong quá trình thi hành quyết định áp dụng biện pháp

xử lý chuyển hướng và tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên;

c) Chấp hành quyết định, biện pháp, quy định của cơ quan, người có thẩm quyền

để bảo đảm sự an toàn, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, bí

mật cá nhân, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của người chưa thành niên.

2. Cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có trách nhiệm

tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc, vụ án; lựa chọn người bào chữa, người

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tự mình bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp cho người chưa thành niên trong quá trình tố tụng theo quy định của

pháp luật.

3. Cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên phạm tội có trách

nhiệm bồi thường thiệt hại và thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của

pháp luật.

Phần thứ hai

XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG ĐỐI VỚI

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Chương III

CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG

Điều 34Mục đích xử lý chuyển hướng

Điều 34. Mục đích xử lý chuyển hướng

1. Xử lý kịp thời và hiệu quả đối với người chưa thành niên.

2. Giúp người chưa thành niên thay đổi nhận thức, nhận biết, sửa chữa sai

lầm đã gây ra, tự rèn luyện khắc phục, ngăn ngừa nguyên nhân dẫn đến hành vi

phạm tội và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội.

3. Đẩy mạnh việc hòa giải giữa người chưa thành niên và bị hại bị ảnh hưởng

bởi hành vi phạm tội của người chưa thành niên.

4. Nâng cao trách nhiệm của gia đình và cộng đồng tham gia trực tiếp vào

hoạt động xử lý chuyển hướng.

5. Hạn chế tác động tiêu cực của thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa

thành niên.

6. Ngăn ngừa người chưa thành niên phạm tội mới, tạo điều kiện tái hòa nhập

cộng đồng.

Điều 35Nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

Điều 35. Nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

1. Việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phải căn cứ vào tính chất,

mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; khả năng giáo dục, phục hồi của người

chưa thành niên phạm tội và sự an toàn của bị hại, cộng đồng.

2. Việc lựa chọn biện pháp xử lý chuyển hướng áp dụng đối với người chưa

thành niên phạm tội phải phù hợp với hoàn cảnh, độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý

của họ.

3. Người chưa thành niên phạm tội có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện

pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng. Biện pháp xử lý chuyển hướng quy định

tại các khoản 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 36 của Luật này phải áp dụng đồng thời với

một hoặc nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4

và 5 Điều 36 của Luật này.

Trường hợp người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng nhiều biện pháp xử lý

chuyển hướng tại cộng đồng khác nhau nhưng cùng phải thực hiện nghĩa vụ quy

định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 23 của Luật này thì thời gian thực hiện

nghĩa vụ không vượt quá mức thời hạn cao nhất quy định đối với biện pháp được

áp dụng.

4. Không áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đồng thời với

các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng.

5. Không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu tại thời điểm xem xét

người phạm tội đã đủ 18 tuổi.

Điều 36Biện pháp xử lý chuyển hướng

Điều 36. Biện pháp xử lý chuyển hướng

1. Khiển trách.

2. Xin lỗi bị hại.

3. Bồi thường thiệt hại.

4. Giáo dục tại xã, phường, đặc khu2.

5. Quản thúc tại gia đình.

6. Hạn chế khung giờ đi lại.

7. Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm

tội mới.

8. Cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới.

9. Tham gia chương trình học tập, dạy nghề.

10. Tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý.

11. Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng.

12. Giáo dục tại trường giáo dưỡng.

Điều 37Trường hợp áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

Điều 37. Trường hợp áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

Người chưa thành niên phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,

nếu không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ

luật Hình sự thì có thể được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng:

1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy

định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều

38 của Luật này;

2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý,

phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật

Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 38 của Luật này;

3. Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong

vụ án.

Điều 38Trường hợp không được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

Điều 38. Trường hợp không được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

1. Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không được áp dụng

biện pháp xử lý chuyển hướng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây, trừ

trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 của Luật này:

a) Phạm tội rất nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội giết

người, Tội hiếp dâm, Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Tội cưỡng dâm người từ

đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Tội sản xuất trái phép chất ma túy;

b) Phạm tội rất nghiêm trọng 02 lần trở lên hoặc phạm nhiều tội rất nghiêm

trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự;

c) Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự.

2. Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không được áp dụng

Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo

quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ

luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá

sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

biện pháp xử lý chuyển hướng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây, trừ

trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 của Luật này:

a) Phạm tội nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội hiếp dâm,

Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Tội mua

bán trái phép chất ma túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, Tội chiếm đoạt

chất ma túy;

b) Tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

c) Phạm tội nghiêm trọng do cố ý 02 lần trở lên hoặc phạm nhiều tội nghiêm

trọng do cố ý theo quy định của Bộ luật Hình sự;

d) Phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

theo quy định của Bộ luật Hình sự.

3. Người chưa thành niên đã được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng mà

phạm tội mới.

Điều 39Điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

Điều 39. Điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

Người chưa thành niên phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định

tại Điều 37 của Luật này có thể được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng khi

có đủ các điều kiện sau đây:

1. Có chứng cứ xác định người chưa thành niên đã thực hiện hành vi phạm tội;

2. Người chưa thành niên thừa nhận mình đã thực hiện hành vi phạm tội;

3. Người chưa thành niên đồng ý bằng văn bản về việc xử lý chuyển hướng.

Điều 40Khiển trách

Điều 40. Khiển trách

1. Khiển trách là việc phê bình nghiêm khắc đối với người chưa thành niên

phạm tội, trong đó giải thích về thiệt hại mà người chưa thành niên đã gây ra và

hậu quả nếu tiếp tục vi phạm. Việc khiển trách được thi hành ngay tại phiên họp

xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, tại phiên tòa hoặc

được thi hành tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chưa thành niên phạm tội

cư trú.

2. Khiển trách có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc

phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự;

b) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong

vụ án.

3. Người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng biện pháp khiển trách phải thực

hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này từ 03 tháng đến 01 năm.

Điều 41Xin lỗi bị hại

Điều 41. Xin lỗi bị hại

1. Xin lỗi bị hại là việc người chưa thành niên phạm tội nhận lỗi với bị hại

và mong muốn được tha thứ về hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Việc xin lỗi bị

hại được thi hành ngay tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử

lý chuyển hướng hoặc tại phiên tòa.

2. Xin lỗi bị hại có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy

định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm

a khoản 2 Điều 51 của Luật này;

b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội

nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong

các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 của Luật này;

c) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong

vụ án.

3. Xin lỗi bị hại được áp dụng khi có sự đồng thuận của bị hại hoặc người

đại diện của họ.

4. Người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng biện pháp xin lỗi bị hại phải thực

hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này từ 03 tháng đến 01 năm.

Điều 42Bồi thường thiệt hại

Điều 42. Bồi thường thiệt hại

1. Bồi thường thiệt hại là việc người chưa thành niên phạm tội hoặc cha, mẹ

của họ khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội mà người chưa thành niên gây ra

bằng cách đền bù tổn hại về vật chất, tinh thần do xâm hại đến tính mạng, sức

khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của bị hại.

2. Bồi thường thiệt hại có thể được áp dụng đối với một trong các trường

hợp sau đây:

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy

định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm

a khoản 2 Điều 51 của Luật này;

b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội

nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong

các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 của Luật này;

c) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong

vụ án.

3. Bồi thường thiệt hại được áp dụng khi có sự đồng thuận của bị hại hoặc

người đại diện của họ. Cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện nghĩa

vụ bồi thường thiệt hại nhưng không quá 01 năm.

4. Người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại

phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này từ 03 tháng

đến 01 năm.

Điều 43Giáo dục tại xã, phường, đặc khu3

Điều 43. Giáo dục tại xã, phường, đặc khu3

Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo

quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ

luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá

sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

1. Giáo dục tại xã, phường, đặc khu4 là việc buộc người chưa thành niên

phạm tội phải chịu sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi

họ cư trú về việc tuân thủ pháp luật, thực hiện nghĩa vụ công dân, chấp hành nội

quy, quy chế của nơi cư trú, nơi học tập, nơi làm việc.

2. Giáo dục tại xã, phường, đặc khu5 có thể được áp dụng đối với một trong

các trường hợp sau đây:

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy

định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 và phạm

một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 của Luật này;

b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm

tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại

khoản 3 Điều 37 và phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51

của Luật này.

3. Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu6 và thực hiện

nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này là từ 06 tháng đến 02 năm.

Điều 44Quản thúc tại gia đình

Điều 44. Quản thúc tại gia đình

1. Quản thúc tại gia đình là việc buộc người chưa thành niên phạm tội ở nhà

dưới sự giám sát trực tiếp của gia đình và chỉ được rời khỏi nhà trong trường hợp

cần thiết với sự cho phép của người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng

biện pháp xử lý chuyển hướng.

2. Quản thúc tại gia đình có thể được áp dụng đối với một trong các trường

hợp sau đây:

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy

định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 và phạm

một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 của Luật này;

b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý;

phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy

định tại khoản 3 Điều 37 và phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2

Điều 51 của Luật này.

Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo

quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ

luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá

sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo

quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ

luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá

sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo

quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ

luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá

sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

3. Quản thúc tại gia đình được áp dụng khi có đề nghị và cam kết của cha,

mẹ, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột hoặc chị ruột là người thành

niên ở cùng nhà với người chưa thành niên phạm tội. Người đề nghị phải bảo đảm

có nơi cư trú rõ ràng, có điều kiện cơ sở vật chất, có khả năng chăm sóc, giáo dục

và trực tiếp giám sát người chưa thành niên phạm tội.

4. Thời hạn áp dụng biện pháp quản thúc tại gia đình và thực hiện nghĩa vụ

quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này là từ 03 tháng đến 01 năm.

Điều 45Hạn chế khung giờ đi lại

Điều 45. Hạn chế khung giờ đi lại

1. Hạn chế khung giờ đi lại là việc giới hạn người chưa thành niên phạm tội

ra khỏi nhà vào khung giờ nhất định trong khoảng thời gian từ 18 giờ ngày hôm

trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, trừ trường hợp cần thiết được người trực tiếp

giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng cho phép.

2. Thời hạn áp dụng biện pháp hạn chế khung giờ đi lại là từ 03 tháng đến

06 tháng.

Điều 46Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành

Điều 46. Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành

niên phạm tội mới

1. Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm

tội mới là việc cấm người chưa thành niên phạm tội giao tiếp, liên lạc, tiếp cận

với bị hại, đồng phạm, người có ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi của người chưa

thành niên có nguy cơ thúc đẩy người chưa thành niên phạm tội mới.

2. Thời hạn áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến

người chưa thành niên phạm tội mới là từ 06 tháng đến 01 năm.

Điều 47Cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên

Điều 47. Cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên

phạm tội mới

1. Cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội

mới là việc cấm người chưa thành niên phạm tội đến địa điểm đã thực hiện hành

vi phạm tội hoặc địa điểm có môi trường tương tự như nơi đã thực hiện hành vi

phạm tội có nguy cơ thúc đẩy người chưa thành niên phạm tội mới.

2. Thời hạn áp dụng biện pháp cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người

chưa thành niên phạm tội mới là từ 06 tháng đến 01 năm.

Điều 48Tham gia chương trình học tập, dạy nghề

Điều 48. Tham gia chương trình học tập, dạy nghề

1. Tham gia chương trình học tập, dạy nghề là việc người chưa thành niên

phạm tội phải học tập về pháp luật, đạo đức, nghĩa vụ công dân, kỹ năng ứng xử,

kỹ năng sống hoặc học nghề.

2. Cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp được cơ quan tiến hành tố

tụng lựa chọn có trách nhiệm đào tạo, giáo dục người chưa thành niên và phối hợp

với người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển

hướng thi hành biện pháp này.

3. Thời hạn áp dụng biện pháp tham gia chương trình học tập, dạy nghề là

không quá 01 năm.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 49Tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý

Điều 49. Tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý

1. Điều trị hoặc tư vấn tâm lý là việc trị liệu, can thiệp y tế nhằm khắc phục

những trở ngại về tinh thần, cảm xúc, tâm trạng, tình trạng sức khỏe là nguyên

nhân dẫn tới hành vi phạm tội của người chưa thành niên.

2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tổ chức khác có chức năng điều trị hoặc

tư vấn tâm lý được cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn có trách nhiệm thực hiện

các biện pháp nghiệp vụ chuyên môn để trị liệu, can thiệp cho người chưa thành

niên và phối hợp với người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện

pháp xử lý chuyển hướng thi hành biện pháp này.

3. Thời hạn áp dụng biện pháp tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý là không

quá 01 năm.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

180 điều

Trích dẫn văn bản này

hợp nhất Luật Tư pháp người chưa thành niên (Công báo Chính phủ). Truy cập qua LawPlayer, https://lawplayer.com/vn/act/vn-congbao-469570

Nguồn: Công báo điện tử nước CHXHCN Việt Nam (congbao.chinhphu.vn), Văn phòng Chính phủ. Official legal texts are excluded from copyright under Article 8 of the Law on Intellectual Property of Vietnam. 再發布須標示來源(Ghi rõ nguồn 'Công báo điện tử' 條款)。

VN-OfficialText-IPLawExempt

本頁資料來源:vbpl.vn (Bộ Tư pháp)·整理提供:法律人 LawPlayer· lawplayer.com