Điều 1. Phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực
quản lý nhà nước, nghiên cứu - phát triển, ứng dụng và hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh
vực năng lượng nguyên tử” (sau đây gọi là Đề án) với các nội dung sau đây:
I. QUAN ĐIỂM
1. Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử phải bám sát chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước; triển khai đồng bộ với chiến lược, quy hoạch phát triển, ứng dụng
năng lượng nguyên tử.
2. Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là nhiệm
vụ trọng tâm, then chốt, có tính chiến lược lâu dài, giữ vai trò quyết định trong
việc làm chủ công nghệ, tự chủ chiến lược; bảo đảm an toàn, an ninh và phát
triển bền vững các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phải gắn với khung năng
lực của các nhóm đối tượng; tổ chức có hệ thống, theo vị trí việc làm, đáp ứng
yêu cầu đầu ra về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân theo từng
nhóm đối tượng.
4. Cơ chế, chính sách đặc thù và phân bổ nguồn lực đồng bộ, hiệu quả phải
tạo ra lợi thế cạnh tranh trong thu hút, phát triển, trọng dụng và sử dụng nguồn
nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
5. Hợp tác và hội nhập quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn
nhân lực với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và các quốc gia có trình độ
phát triển cao về công nghệ hạt nhân được tăng cường nhằm xây dựng nguồn
nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo
đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu phát triển, hỗ trợ kỹ thuật và ứng dụng năng lượng nguyên tử bảo đảm đủ số
lượng, cơ cấu hợp lý và chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng
lượng nguyên tử, bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Mục tiêu cụ thể đến năm 2030
- Nhân lực quản lý nhà nước:
+ Phấn đấu 100% nhân lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử ở trung ương và địa phương được đào tạo, bồi dưỡng, đủ năng lực
thực thi các nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và
an ninh hạt nhân, ứng dụng năng lượng nguyên tử.
+ Tối thiểu 50% nhân lực của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia
được đào tạo, bồi dưỡng đủ năng lực phục vụ công tác xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật, thẩm định, đánh giá, thanh tra, giám sát an toàn và an ninh đối
với nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
+ Phấn đấu tối thiểu 30% nhân lực của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân
quốc gia được đào tạo, bồi dưỡng và tích lũy kinh nghiệm tại các cơ quan quản
lý về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân; tổ chức hỗ trợ kỹ thuật
và cơ sở điện hạt nhân ở nước ngoài, bảo đảm hình thành đội ngũ chuyên gia
nòng cốt có năng lực phục vụ công tác thẩm định cấp phép nhà máy điện hạt
nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
- Nhân lực nghiên cứu - phát triển
+ Hình thành đội ngũ nhân lực nghiên cứu - phát triển nòng cốt có trình độ
cao, đủ năng lực tiếp thu, làm chủ, chuyển giao và phát triển công nghệ trong
lĩnh vực năng lượng nguyên tử, phục vụ triển khai điện hạt nhân và mở rộng ứng
dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế - xã hội.
+ Xây dựng đội ngũ nhân lực vận hành an toàn, hiệu quả lò phản ứng hạt
nhân nghiên cứu, phục vụ nghiên cứu khoa học, đào tạo và sản xuất đồng vị
phóng xạ.
- Nhân lực hỗ trợ kỹ thuật:
+ Hình thành đội ngũ nhân lực hỗ trợ kỹ thuật nòng cốt có năng lực tham
gia đánh giá, thẩm định các lĩnh vực an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh
hạt nhân, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển điện hạt nhân.
+ Phấn đấu 100% nhân lực hỗ trợ kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được bồi dưỡng, đủ năng lực hỗ trợ kỹ thuật
cho công tác thẩm định, thanh tra, kiểm tra, quan trắc phóng xạ môi trường và
ứng phó sự cố.
+ Phấn đấu 100% nhân lực hỗ trợ kỹ thuật về an ninh hạt nhân, quan trắc
phóng xạ và ứng phó sự cố của các bộ, ngành được bồi dưỡng, đủ năng lực thực
hiện hiệu quả các nhiệm vụ bảo đảm an ninh và ứng phó sự cố.
- Nhân lực ứng dụng năng lượng nguyên tử:
100% nhân viên bức xạ được cơ sở tiến hành công việc bức xạ tổ chức đào
tạo an toàn bức xạ theo quy định của pháp luật. Hình thành đội ngũ nhân lực có
khả năng vận hành, khai thác hiệu quả nguồn bức xạ trong y tế, công nghiệp,
nông nghiệp - môi trường và các ngành kinh tế - kỹ thuật khác; tuân thủ đầy đủ
yêu cầu về bảo đảm an toàn, an ninh.
b) Mục tiêu cụ thể đến năm 2035
- Nhân lực quản lý nhà nước:
+ 100% nhân lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở
trung ương và địa phương được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng bảo đảm đủ
năng lực thực thi các nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt
nhân và an ninh hạt nhân, ứng dụng năng lượng nguyên tử.
+ Nhân lực của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia được đào tạo,
bồi dưỡng bảo đảm tự chủ được 70% năng lực thẩm định, đánh giá, thanh tra,
kiểm tra, giám sát an toàn và an ninh các dự án điện hạt nhân và 100% đối với
dự án lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
- Nhân lực nghiên cứu - phát triển:
+ Phát triển đội ngũ nhân lực nghiên cứu - phát triển nòng cốt có trình độ
cao, được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, đủ năng lực làm chủ, cải tiến và phát triển
công nghệ nhiên liệu hạt nhân và công nghệ chế biến, sử dụng đất hiếm; có khả
năng tham gia và từng bước chủ trì triển khai các dự án nghiên cứu - phát triển
và ứng dụng công nghệ trong các lĩnh vực này. Phấn đấu có 04 - 05 nhóm nghiên
cứu có khả năng làm chủ một số công nghệ hạt nhân hỗ trợ các dự án điện hạt
nhân (bao gồm lò phản ứng mô-đun nhỏ) và lò phản ứng nghiên cứu.
+ Hoàn thiện và khai thác hiệu quả hệ thống cơ sở nghiên cứu tiên tiến, bao
gồm các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và phòng thí nghiệm chuyên sâu,
phục vụ nghiên cứu và đào tạo nhân lực chất lượng cao.
- Nhân lực hỗ trợ kỹ thuật:
+ Phát triển đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên sâu, đủ năng lực thực
hiện độc lập các hoạt động phân tích, đánh giá an toàn, thẩm định kỹ thuật và
tư vấn phục vụ cơ quan quản lý nhà nước trong toàn bộ vòng đời dự án điện
hạt nhân.
+ Xây dựng đội ngũ nhân lực có năng lực làm chủ các phương pháp, công
cụ và mô hình phân tích an toàn, đánh giá rủi ro, phân tích sự cố, bảo đảm năng
lực thẩm định độc lập, khách quan, phù hợp với tiêu chuẩn và hướng dẫn của Cơ
quan Năng lượng nguyên tử quốc tế.
- Nhân lực ứng dụng năng lượng nguyên tử:
100% nhân viên bức xạ được cơ sở tiến hành công việc bức xạ tổ chức đào
tạo an toàn bức xạ theo quy định của pháp luật. Hình thành đội ngũ nhân lực có
khả năng làm chủ công nghệ ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong y tế,
công nghiệp, nông nghiệp - môi trường và các ngành kinh tế - kỹ thuật khác.
c) Tầm nhìn đến năm 2050
- Nhân lực quản lý nhà nước tại trung ương và địa phương được đào tạo,
bồi dưỡng thường xuyên, đủ năng lực thực thi nhiệm vụ, bảo đảm hiệu lực, hiệu
quả công tác quản lý nhà nước và góp phần đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội.
- Nhân lực cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia có đủ năng lực
thẩm định, cấp phép, thanh tra, giám sát và ứng phó sự cố đối với các loại hình
lò phản ứng hạt nhân, bao gồm lò phản ứng hạt nhân công suất lớn và lò phản
ứng hạt nhân mô-đun nhỏ; bảo đảm năng lực điều phối chiến lược quốc gia về
an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân.
- Hình thành và phát triển lực lượng chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử theo hướng đồng bộ, bao gồm đội ngũ chuyên gia khoa học - công
nghệ nòng cốt và chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu; đồng thời đáp ứng yêu cầu
triển khai, đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan quản lý nhà nước và các cơ
sở, dự án hạt nhân, bao gồm nhà máy điện hạt nhân; từng bước tham gia chuỗi
giá trị hạt nhân toàn cầu và cung cấp dịch vụ kỹ thuật, đào tạo ở tầm khu vực
và quốc tế.
- Hình thành và phát triển nhân lực chất lượng cao, làm chủ công nghệ
bức xạ và kỹ thuật hạt nhân tiên tiến trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp, tài
nguyên, môi trường và các ngành kinh tế - kỹ thuật khác, đóng góp hiệu quả
cho phát triển kinh tế - xã hội.
- Phát triển hệ sinh thái đào tạo quốc gia, với mạng lưới giảng viên,
chuyên gia nguồn có khả năng tự đào tạo, đào tạo lại và chuyển giao tri thức
cho toàn ngành.
III. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG
1. Đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng
a) Nhân lực quản lý nhà nước
- Nhân lực tại cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia.
- Nhân lực tại bộ, cơ quan trung ương thực hiện công tác quản lý nhà nước
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
- Nhân lực tại địa phương thực hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh
vực năng lượng nguyên tử.
b) Nhân lực nghiên cứu - phát triển và hỗ trợ kỹ thuật
- Nhân lực thuộc các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, đơn vị sự
nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
- Nhân lực thuộc tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập, doanh
nghiệp, cơ sở ứng dụng và các tổ chức khác có hoạt động nghiên cứu - phát
triển, hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, có khả năng tham
gia thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án của nhà nước hoặc cung cấp
dịch vụ kỹ thuật phục vụ quản lý nhà nước.
c) Nhân lực ứng dụng năng lượng nguyên tử
Nhân viên bức xạ tại các cơ sở tiến hành công việc bức xạ, trừ nhân lực
phục vụ dự án nhà máy điện hạt nhân được đào tạo, bồi dưỡng theo Đề án khác
hoặc do chủ đầu tư dự án thực hiện.
2. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải được thiết kế phù hợp với từng nhóm
đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm đáp ứng yêu cầu về năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ theo từng lĩnh vực, bao gồm: điện hạt nhân; lò phản ứng hạt nhân
nghiên cứu; nghiên cứu và phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong
các ngành kinh tế - kỹ thuật.
3. Hình thức đào tạo, bồi dưỡng
Hình thức đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện theo quy định pháp luật, phù
hợp với đối tượng, nội dung đào tạo, bồi dưỡng, gồm một hoặc các hình thức
đào tạo sau đây:
a) Bồi dưỡng ngắn hạn.
b) Bồi dưỡng cơ bản.
c) Bồi dưỡng nâng cao.
d) Đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu.
đ) Đào tạo tại chỗ.
e) Đào tạo, bồi dưỡng cho giảng viên.
g) Đào tạo sau đại học.
h) Đào tạo an toàn bức xạ.
IV. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Về cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực
a) Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, bảo đảm nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển, ứng dụng
năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình.
b) Nâng cao năng lực, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan quản lý nhà
nước, tổ chức nghiên cứu - phát triển và hỗ trợ kỹ thuật có trình độ, năng lực
theo khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế phục vụ công tác
quản lý nhà nước và phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích
hòa bình.
c) Xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia nòng cốt có năng lực tham
gia đào tạo, bồi dưỡng nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử các trình
độ từ cơ bản đến chuyên sâu.
d) Nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện quy định về chế độ ưu đãi nghề
nghiệp, chính sách tiền lương phù hợp đối với người làm việc trong lĩnh vực
năng lượng nguyên tử hưởng lương từ ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm
nguồn nhân lực để thực hiện đào tạo, bồi dưỡng.
đ) Khuyến khích sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước trong đào tạo,
bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử,
bao gồm thúc đẩy hợp tác công - tư, đặt hàng và liên kết đào tạo, tham gia xây
dựng chương trình, đào tạo thực hành, tiếp nhận và sử dụng nhân lực sau đào
tạo, kết nối cung - cầu nhân lực.
2. Phát triển, chuẩn hóa và hiện đại hóa chương trình đào tạo, bồi dưỡng
a) Xây dựng khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhân lực trong lĩnh
vực năng lượng nguyên tử theo nhiều cấp độ, liên ngành, bảo đảm tính khoa
học, hệ thống và liên thông.
b) Ưu tiên phát triển các chương trình chuyên sâu theo chuẩn quốc tế;
biên soạn, số hóa, cập nhật giáo trình, học liệu, ngân hàng phần mềm mô
phỏng hiện đại; thí điểm trước tại các cơ sở đào tạo trọng điểm và trung tâm
đào tạo thực hành.
c) Huy động chuyên gia trong nước, chuyên gia quốc tế và người Việt
Nam ở nước ngoài tham gia xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng và cập
nhật tri thức.
3. Xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng
a) Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hằng năm và giai đoạn 5 năm trên
cơ sở tổng hợp kết quả đào tạo, bồi dưỡng, xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
nhân lực theo từng nội dung, hình thức và tiến độ triển khai chiến lược phát triển,
ứng dụng năng lượng nguyên tử; bảo đảm chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng phù hợp
mục tiêu phát triển nhân lực đến năm 2030, 2035 và tầm nhìn đến năm 2050.
b) Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng theo các hình thức trực tiếp, trực
tuyến, mô phỏng, thực tập; tổ chức đào tạo chuyên sâu theo hình thức đào tạo
tại chỗ cho cán bộ tham gia việc thẩm định cho dự án nhà máy điện hạt nhân,
bảo đảm đủ năng lực, trình độ và kinh nghiệm để làm chủ công tác thẩm định
các nhà máy điện hạt nhân.
c) Thực hiện sát hạch, đánh giá năng lực và cấp chứng chỉ theo quy định,
bảo đảm phản ánh đúng năng lực học viên.
d) Giao các cơ sở đào tạo trọng điểm gồm: Đại học Bách Khoa Hà Nội,
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường
Đại học Đà Lạt, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và các cơ sở do Bộ
Khoa học và Công nghệ lựa chọn đủ năng lực thực hiện đào tạo, bồi dưỡng về
năng lượng nguyên tử; từng bước tích hợp các chương trình bồi dưỡng chuyên
sâu vào các chương trình đào tạo chính thức.
đ) Lựa chọn đối tượng đào tạo, bồi dưỡng công khai, minh bạch, phù hợp
với yêu cầu vị trí việc làm và nhu cầu nhân lực của từng nhóm đối tượng. Ưu
tiên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân lực pháp quy về an toàn, an ninh và ứng
phó sự cố; các chuyên gia nòng cốt trong các lĩnh vực đặc thù, thiết yếu đáp ứng
yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo đảm an toàn, an ninh.
e) Phổ biến, nâng cao nhận thức về năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ
và hạt nhân tại các trường chính trị, trường phổ thông trung học, người dân khu
vực gần cơ sở hạt nhân nhằm thu hút nguồn nhân lực trong tương lai, nâng cao
hiệu quả công tác quản lý nhà nước và góp phần xây dựng văn hóa an toàn, an
ninh hạt nhân trong cộng đồng.
4. Đầu tư và phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất cho hoạt động đào tạo,
bồi dưỡng
a) Tăng cường đầu tư đồng bộ trang thiết bị, công nghệ theo hướng hiện
đại, đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng về điện hạt nhân và năng lượng nguyên
tử cho các cơ sở đào tạo trọng điểm.
b) Ưu tiên đầu tư, nâng cấp cơ sở nghiên cứu hạt nhân của Viện Năng
lượng nguyên tử Việt Nam đáp ứng yêu cầu đào tạo, thực hành hạt nhân theo
tiêu chuẩn quốc tế.
5. Tăng cường hợp tác quốc tế và liên kết đào tạo, bồi dưỡng
a) Tổ chức các hình thức liên kết đào tạo, bồi dưỡng giữa cơ sở đào tạo
trong nước với các nước có nền công nghệ hạt nhân tiên tiến, các cơ sở đào tạo
hạt nhân uy tín trên thế giới; xây dựng và triển khai hệ thống đào tạo và cấp
chứng chỉ song bằng của Việt Nam và của các tổ chức đào tạo ở các nước phát
triển; tham gia mạng lưới đào tạo khu vực, quốc tế.
b) Thu hút chuyên gia nước ngoài và huy động đội ngũ chuyên gia, nhà
khoa học người Việt Nam ở nước ngoài tham gia trực tiếp vào hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng và chuyển giao tri thức.
c) Xây dựng, ký kết và triển khai các chương trình, thỏa thuận hợp tác với
Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và các đối tác quốc tế, nhất là các nước
phát triển trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, sở hữu công nghệ điện hạt nhân.
d) Triển khai các nhiệm vụ hợp tác quốc tế nhằm tạo thuận lợi cho việc cử
cán bộ, chuyên gia người Việt Nam tham gia các chương trình thực tập, làm
việc tại Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế, các tổ chức quốc tế và các nhà
máy điện hạt nhân ở nước ngoài.
6. Triển khai chuyển đổi số trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và quản lý
nhân lực
a) Ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong quá trình đào
tạo, bồi dưỡng, từ lập kế hoạch, tổ chức, đánh giá nhân lực trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử.
b) Xây dựng cơ sở dữ liệu về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân
lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Chuẩn hóa, hệ thống hóa, số hóa toàn
bộ dữ liệu nhân lực và chương trình đào tạo, bồi dưỡng, hình thành nền tảng dữ
liệu mở phục vụ hoạch định phát triển nhân lực trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử trong dài hạn.
Danh mục nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Đề án tại Phụ lục kèm theo Quyết
định này.
V. KINH PHÍ THỰC HIỆN
1. Kinh phí thực hiện Đề án được bảo đảm từ nguồn ngân sách nhà nước
(bao gồm cả nguồn chi lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số), bảo đảm tuân thủ đúng quy định của pháp luật về ngân sách
nhà nước và pháp luật khác liên quan; nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế,
đối tác công nghệ, doanh nghiệp trong và ngoài nước; nguồn vốn hỗ trợ phát
triển chính thức, vốn viện trợ không hoàn lại và các nguồn hợp pháp khác theo
quy định của pháp luật.
2. Việc lập dự toán chi, quản lý, sử dụng, thanh quyết toán các nguồn kinh
phí thực hiện Đề án bảo đảm tuân thủ quy định của Luật Ngân sách nhà nước,
Luật Đầu tư công, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các văn bản
pháp luật liên quan, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, không chồng chéo, trùng
lắp nội dung chi, không lãng phí, công khai và minh bạch.
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ Khoa học và Công nghệ
a) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành triển khai thực hiện Đề án; hướng
dẫn, kiểm tra, giám sát tình hình triển khai các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án.
b) Chịu trách nhiệm về nội dung hồ sơ, báo cáo và đề xuất, kiến nghị tại Tờ
trình số 65/TTr-BKHCN ngày 24 tháng 4 năm 2026 và văn bản số
2958/BKHCN-ATBXHN ngày 08 tháng 5 năm 2026.
c) Chủ trì điều tra, đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhân lực trong
lĩnh vực năng lượng nguyên tử theo từng năm, làm cơ sở xây dựng, phê duyệt,
rà soát, điều chỉnh và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hằng năm
và trung hạn.
d) Xây dựng cơ sở dữ liệu về đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân
lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử cùng với việc tổ chức, vận hành Nền
tảng số về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển, ứng
dụng năng lượng nguyên tử theo quy định pháp luật.
đ) Chủ trì nghiên cứu, đề xuất và trình cấp có thẩm quyền ban hành các
cơ chế, chính sách đặc thù về tài chính, đãi ngộ, thu hút và sử dụng nhân lực
làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
e) Tổ chức thực hiện nâng cao năng lực, phát triển nguồn nhân lực cho cơ
quan an toàn bức xạ và hạt nhân, cơ sở nghiên cứu - phát triển và tổ chức hỗ
trợ kỹ thuật.
g) Chủ trì đàm phán, ký kết và triển khai các chương trình hợp tác quốc tế
về đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo tại chỗ; lựa chọn cơ sở đào tạo phù hợp (cơ
quan pháp quy, viện nghiên cứu, nhà máy điện hạt nhân, tổ chức hỗ trợ kỹ
thuật) để cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo, thực tập và trao đổi kinh nghiệm.
h) Ban hành khung năng lực cho nhân lực trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử; ban hành khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng; quản lý chương
trình, đánh giá năng lực sau đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại và phát triển đội
ngũ chuyên gia nòng cốt.
i) Xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ chuyên gia nòng cốt có năng
lực tham gia đào tạo, bồi dưỡng nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
các trình độ từ cơ bản đến chuyên sâu.
k) Định kỳ hàng năm tổng hợp tình hình thực hiện Đề án, tổ chức sơ kết,
tổng kết đánh giá việc thực hiện Đề án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, trường
hợp cần thiết kiến nghị Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh Đề án để bảo đảm phù
hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chỉ đạo các cơ sở đào tạo trọng điểm quy định tại Đề án này, thuộc quyền
quản lý tham gia phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành,
địa phương liên quan trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của Đề án.
3. Bộ Công Thương
Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng và triển khai
kế hoạch hằng năm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước về
phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành công nghiệp
và phục vụ phát triển điện hạt nhân.
4. Bộ Y tế
Chủ trì xây dựng và triển khai kế hoạch hằng năm đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực quản lý nhà nước về phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị
phóng xạ trong ngành y tế.
5. Bộ Nông nghiệp và Môi trường
a) Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc xác định
nhu cầu, tham gia xây dựng kế hoạch hằng năm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực quản lý nhà nước về phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong
lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
b) Phối hợp đề xuất nội dung và cử cán bộ tham gia các chương trình đào
tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về ứng dụng năng lượng nguyên tử trong lĩnh vực
nông nghiệp và môi trường (an toàn bức xạ trong sản xuất nông nghiệp và bảo
vệ môi trường, kiểm dịch, chiếu xạ, đột biến giống và quan trắc môi trường…)
theo kế hoạch chung do cơ quan có thẩm quyền chủ trì.
6. Bộ Quốc phòng
a) Chủ trì xây dựng lực lượng chuyên môn hoặc chuyên trách về quan trắc
phóng xạ môi trường; phòng chống vũ khí bức xạ, vũ khí hạt nhân; ứng phó sự
cố trong tình huống khẩn cấp.
b) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây
dựng chương trình và tham gia đào tạo, bồi dưỡng về quan trắc phóng xạ môi
trường, kiểm xạ, tẩy xạ và diễn tập ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân.
7. Bộ Công an
a) Chủ trì xây dựng lực lượng chuyên môn hoặc chuyên trách về an ninh
hạt nhân, phòng chống khủng bố bức xạ, hạt nhân.
b) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây
dựng chương trình và tham gia đào tạo, bồi dưỡng về an ninh hạt nhân.
8. Bộ Ngoại giao
a) Phối hợp, hỗ trợ Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo
và các cơ quan liên quan trong công tác ngoại giao, đàm phán, ký kết và thực
hiện các điều ước, thỏa thuận quốc tế về hợp tác đào tạo, bồi dưỡng và phát
triển nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
b) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan trong
việc thiết lập quan hệ hợp tác với IAEA, các tổ chức quốc tế và quốc gia có
ngành hạt nhân phát triển; tổ chức thực hiện các điều ước, thỏa thuận quốc tế
về phát triển nhân lực.
c) Hướng dẫn, hỗ trợ công tác đối ngoại, lãnh sự đối với hoạt động cử
chuyên gia, cán bộ, học viên ra nước ngoài và mời chuyên gia quốc tế vào
Việt Nam.
9. Bộ Nội vụ
Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài
chính và các cơ quan liên quan rà soát, xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách
về tài chính, đãi ngộ, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh
vực năng lượng nguyên tử để thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng.
10. Bộ Tài chính
Cân đối nguồn ngân sách nhà nước hằng năm cho lĩnh vực khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo quy định pháp luật về ngân sách,
đầu tư công và pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực. Tổng hợp, trình cấp có thẩm
quyền xem xét, quyết định trên cơ sở đề xuất, tổng hợp của Bộ Khoa học và
Công nghệ về dự toán chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo quy định.
11. Các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương và các cơ quan liên quan
a) Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trong xác định nhu
cầu đào tạo, bồi dưỡng; lập danh sách cán bộ tham gia các khóa đào tạo, bồi
dưỡng; tạo điều kiện để cán bộ hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng,
thực tập và đào tạo tại chỗ theo kế hoạch.
b) Bố trí kinh phí theo thẩm quyền để thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, bồi
dưỡng thuộc phạm vi quản lý; đồng thời huy động nguồn xã hội hóa, nguồn
viện trợ và hợp tác quốc tế nhằm tăng cường hiệu quả của Đề án.
c) Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hằng năm và khi có yêu cầu về tình
hình cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng, kết quả đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá năng
lực sau đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng bổ sung gửi Bộ Khoa
học và Công nghệ để tổng hợp.
d) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, cơ quan, tổ chức
liên quan triển khai các nhiệm vụ trọng tâm của Đề án.