Điều 3. Sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 26/2014/TTBKHCN ngày 10 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công
nghệ quy định chi tiết thi hành Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg ngày 05 tháng
3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của các
cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước (sau đây gọi là Thông
tư số 26/2014/TT-BKHCN)
1. Sửa đổi, bổ sung Điều 8 như sau:
“Điều 8. Năng lực của tổ chức tư vấn
1. Được thành lập theo quy định của pháp luật, có chức năng hoạt động
trong lĩnh vực tư vấn xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng.
2. Có chứng chỉ Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp Tiêu chuẩn quốc gia
TCVN ISO 9001 đối với phạm vi tư vấn, đang còn hiệu lực và được cấp bởi tổ
chức chứng nhận đã đăng ký lĩnh vực hoạt động theo quy định của pháp luật.
3. Có kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn xây dựng Hệ thống quản lý chất
lượng (đã tư vấn cho ít nhất 10 tổ chức, doanh nghiệp xây dựng Hệ thống quản lý
chất lượng và được chứng nhận bởi tổ chức chứng nhận đã đăng ký lĩnh vực hoạt
động theo quy định của pháp luật).
4. Thường xuyên có ít nhất 05 chuyên gia tư vấn thuộc biên chế chính thức
(viên chức hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc
chuyên môn, nghiệp vụ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên hoặc người lao
động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ không
xác định thời hạn) có năng lực theo quy định tại Điều 9 Thông tư này.”.
2. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:
“Điều 9. Năng lực của chuyên gia tư vấn
1. Có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên.
2. Có chứng chỉ đào tạo về quản lý hành chính nhà nước chương trình tương
đương ngạch chuyên viên trở lên hoặc chương trình do Bộ Khoa học và Công
nghệ quy định hoặc tốt nghiệp đại học chuyên ngành hành chính tại Học viện
Hành chính Quốc gia.
3. Có chứng chỉ đào tạo về tư vấn xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng
theo quy định tại Chương IV Thông tư này.
4. Có tổng thâm niên công tác từ 03 năm trở lên (kể từ thời điểm tốt nghiệp
đại học) và có kinh nghiệm tư vấn xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng (đã tham
gia tư vấn chính cho ít nhất 05 tổ chức, doanh nghiệp xây dựng Hệ thống quản lý
chất lượng và đã được chứng nhận bởi tổ chức chứng nhận đã đăng ký lĩnh vực
hoạt động theo quy định của pháp luật).”.
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 10 như sau:
“Điều 10. Năng lực của chuyên gia tư vấn độc lập
1. Chuyên gia tư vấn độc lập là chuyên gia tư vấn không thuộc bất kỳ tổ
chức tư vấn hoặc tổ chức chứng nhận nào, có năng lực theo quy định tại Điều 9
Thông tư này.
2. Cán bộ, công chức có năng lực theo quy định tại Điều 9 Thông tư này có
nhu cầu làm chuyên gia tư vấn độc lập phải được sự đồng ý bằng văn bản của lãnh
đạo cơ quan nơi công tác (trường hợp là lãnh đạo cơ quan, phải được sự đồng ý
bằng văn bản của cơ quan chủ quản cấp trên) và phải thực hiện theo quy định
chung của pháp luật về quản lý cán bộ, công chức, viên chức.”.
4. Sửa đổi, bổ sung Điều 11 như sau:
“Điều 11. Năng lực của tổ chức chứng nhận
1. Được thành lập theo quy định của pháp luật, có chức năng hoạt động
trong lĩnh vực chứng nhận.
2. Đã đăng ký lĩnh vực hoạt động theo quy định của pháp luật.
3. Có kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh giá chứng nhận Hệ thống quản lý
chất lượng (đã thực hiện đánh giá chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng cho ít
nhất 20 tổ chức, doanh nghiệp).
4. Thường xuyên có ít nhất 05 chuyên gia đánh giá thuộc biên chế chính
thức (viên chức hoặc người lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công
việc chuyên môn, nghiệp vụ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên hoặc người
lao động ký kết hợp đồng lao động thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ
không xác định thời hạn) có năng lực theo quy định tại Điều 12 Thông tư này.”.
5. Sửa đổi, bổ sung Điều 12 như sau:
“Điều 12. Năng lực của chuyên gia đánh giá
1. Có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên.
2. Có chứng chỉ đào tạo về quản lý hành chính nhà nước chương trình tương
đương ngạch chuyên viên trở lên hoặc chương trình do Bộ Khoa học và Công
nghệ quy định hoặc đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành hành chính tại Học viện
Hành chính Quốc gia.
3. Có chứng chỉ đào tạo về đánh giá Hệ thống quản lý chất lượng theo quy
định tại Chương IV Thông tư này.
4. Có tổng thâm niên công tác từ 05 năm trở lên (kể từ thời điểm tốt nghiệp
đại học) và có kinh nghiệm đánh giá Hệ thống quản lý chất lượng (đã thực hiện
đánh giá Hệ thống quản lý chất lượng với tư cách là trưởng đoàn đánh giá cho ít
nhất 10 tổ chức, doanh nghiệp).”.
6. Sửa đổi, bổ sung Điều 13 như sau:
“Điều 13. Hồ sơ công bố năng lực tư vấn đối với tổ chức tư vấn
Tổ chức tư vấn có nhu cầu tham gia hoạt động tư vấn Hệ thống quản lý chất
lượng đối với cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước, lập 01 bộ hồ
sơ công bố năng lực gửi đến cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ tại tỉnh, thành phố
nơi tổ chức tư vấn đặt địa chỉ trụ sở chính thông qua một trong các cách thức sau:
trực tiếp tại Bộ phận Một cửa hoặc Trung tâm phục vụ hành chính công hoặc
thông qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia. Hồ
sơ công bố gồm:
1. Bản công bố năng lực tư vấn theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm
theo Thông tư này.
2. Bản sao chứng chỉ Hệ thống quản lý chất lượng theo quy định tại khoản
2 Điều 8 Thông tư này.”.
7. Sửa đổi, bổ sung Điều 14 như sau:
“Điều 14. Hồ sơ công bố năng lực tư vấn đối với chuyên gia tư vấn độc lập
Cá nhân có nhu cầu tham gia hoạt động tư vấn độc lập Hệ thống quản lý
chất lượng đối với cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước, lập 01
bộ hồ sơ công bố năng lực gửi đến cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ tại tỉnh,
thành phố nơi chuyên gia tư vấn độc lập đăng ký thường trú thông qua một trong
các cách thức sau: trực tiếp tại Bộ phận Một cửa hoặc Trung tâm phục vụ hành
chính công hoặc thông qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ
công quốc gia. Hồ sơ công bố gồm:
1. Bản công bố năng lực tư vấn theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm
theo Thông tư này.
2. Văn bản theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư này.”.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 như sau:
“Điều 15. Hồ sơ công bố năng lực đánh giá đối với tổ chức chứng nhận
Tổ chức chứng nhận có nhu cầu tham gia hoạt động đánh giá Hệ thống quản
lý chất lượng đối với cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước, lập
01 bộ hồ sơ công bố năng lực gửi đến cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ tại tỉnh,
thành phố nơi tổ chức chứng nhận đặt địa chỉ trụ sở chính thông qua một trong
các cách thức sau: trực tiếp tại Bộ phận Một cửa hoặc Trung tâm phục vụ hành
chính công hoặc thông qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ
công quốc gia. Hồ sơ công bố gồm:
1. Bản công bố năng lực đánh giá theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm
theo Thông tư này.
2. Bản sao giấy chứng nhận đăng ký lĩnh vực hoạt động theo quy định tại
khoản 2 Điều 11 Thông tư này.”.
9. Sửa đổi, bổ sung Điều 16 như sau:
“Điều 16. Xử lý hồ sơ công bố năng lực tư vấn, đánh giá
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ công bố hợp
lệ, cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ chịu trách nhiệm ghi nhận việc tiếp nhận hồ
sơ công bố năng lực trên Bản công bố năng lực của tổ chức, cá nhân; trường hợp
hồ sơ được nộp, tiếp nhận, xử lý trên môi trường điện tử thì việc ghi nhận được
thực hiện bằng hình thức điện tử trên hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý hồ sơ
hoặc trên bản điện tử của Bản công bố năng lực. Trường hợp không ghi nhận, tổ
chức, cá nhân được thông báo lý do bằng văn bản.”.
10. Sửa đổi, bổ sung Điều 21 như sau:
“Điều 21. Điều chỉnh Bản công bố năng lực tư vấn, đánh giá
Việc điều chỉnh nội dung của Bản công bố năng lực tư vấn, đánh giá áp
dụng trong trường hợp tổ chức, cá nhân thay đổi tên, địa chỉ liên lạc hoặc bổ sung,
thay đổi chuyên gia tư vấn, chuyên gia đánh giá, được thực hiện như sau:
1. Tổ chức, cá nhân lập Bản công bố năng lực theo Mẫu số 01 tại Phụ lục
ban hành kèm theo Thông tư này, gửi đến cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ tại
tỉnh, thành phố thông qua một trong các cách thức sau: trực tiếp tại Bộ phận Một
cửa hoặc Trung tâm phục vụ hành chính công hoặc thông qua dịch vụ bưu chính
hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Bản công bố năng
lực hợp lệ, cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ chịu trách nhiệm ghi nhận việc tiếp
nhận hồ sơ công bố năng lực trên Bản công bố năng lực của tổ chức, cá nhân;
trường hợp hồ sơ được nộp, tiếp nhận, xử lý trên môi trường điện tử thì việc ghi
nhận được thực hiện bằng hình thức điện tử trên hệ thống thông tin tiếp nhận, xử
lý hồ sơ hoặc trên bản điện tử của Bản công bố năng lực. Trường hợp không ghi
nhận, tổ chức, cá nhân được thông báo lý do bằng văn bản.”.
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 22 như sau:
“Điều 22. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, chuyên gia được tiếp nhận hồ sơ
công bố năng lực
1. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tư vấn, chuyên gia tư vấn độc lập:
a) Được quyền tư vấn xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng đối với các
cơ quan khi được yêu cầu;
b) Được thu chi phí hoạt động tư vấn theo thoả thuận và quy định chung
của Bộ Tài chính;
c) Tổ chức tư vấn chỉ được cử các chuyên gia có năng lực theo quy định
thực hiện tư vấn xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng đối với các cơ quan;
d) Thực hiện đầy đủ hoạt động tư vấn xây dựng Hệ thống quản lý chất
lượng đối với cơ quan theo hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của Ủy ban Tiêu
chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia trên cơ sở:
- Quy định tại Điều 3 Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg và Điều 4 Thông tư này;
- Mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng do Bộ Khoa học và Công
nghệ công bố cho từng loại hình cơ quan tại địa phương và mô hình khung Hệ
thống quản lý chất lượng do các Bộ, ngành công bố cho các cơ quan được tổ chức
theo hệ thống ngành dọc;
đ) Quá trình tư vấn tại cơ quan phải được thực hiện theo đúng thời gian,
tiến độ trong kế hoạch tư vấn đã được hai bên thoả thuận, ký kết.
Sau mỗi lần tư vấn, chuyên gia tư vấn phải lập biên bản làm việc về các nội
dung công việc đã thực hiện với sự xác nhận của hai bên.
Trường hợp cơ quan không thực hiện theo đúng kế hoạch tư vấn mà không
có lý do xác đáng, tổ chức tư vấn, chuyên gia tư vấn độc lập gửi báo cáo bằng văn
bản về đơn vị chủ trì để xử lý;
e) Duy trì, nâng cao năng lực hoạt động tư vấn và thực hiện đúng quy định
đối với tổ chức tư vấn đã công bố năng lực và được ghi nhận;
g) Trường hợp chuyên gia tư vấn đã được công bố năng lực nhưng không
còn hoạt động trong tổ chức tư vấn, trong thời hạn 05 ngày làm việc, tổ chức tư
vấn có trách nhiệm điều chỉnh Bản công bố năng lực theo quy định;
h) Chịu sự giám sát của đơn vị chủ trì khi thực hiện tư vấn xây dựng Hệ
thống quản lý chất lượng tại các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, địa phương khi
cần thiết;
i) Định kỳ tháng 11 hằng năm, báo cáo tình hình hoạt động tư vấn theo Mẫu
số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về
tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và báo cáo đột xuất khi có yêu cầu.
2. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức chứng nhận:
a) Được các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thuê phối hợp kiểm tra
hoạt động xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng tại
các cơ quan thuộc Bộ, ngành, địa phương (trong trường hợp Bộ, ngành, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh thấy cần thiết);
b) Được thu chi phí khi các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thuê phối
hợp kiểm tra theo thỏa thuận và quy định chung của Bộ Tài chính;
c) Chỉ được cử các chuyên gia có năng lực theo quy định tiến hành đánh
giá Hệ thống quản lý chất lượng đối với các cơ quan;
d) Duy trì, nâng cao năng lực hoạt động đánh giá và thực hiện đúng quy
định đối với tổ chức chứng nhận đã công bố năng lực và được ghi nhận;
đ) Trường hợp chuyên gia đánh giá đã được công bố năng lực nhưng không
còn hoạt động trong tổ chức chứng nhận, trong thời hạn 05 ngày làm việc, tổ chức
chứng nhận có trách nhiệm điều chỉnh Bản công bố năng lực theo quy định;
e) Định kỳ tháng 11 hằng năm, báo cáo tình hình hoạt động đánh giá theo
Mẫu số 04 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này trên Cơ sở dữ liệu quốc
gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và báo cáo đột xuất khi có yêu cầu.”.
12. Sửa đổi, bổ sung Điều 23 như sau:
“Điều 23. Hủy bỏ Bản công bố năng lực tư vấn, đánh giá
1. Tổ chức, cá nhân bị hủy bỏ Bản công bố năng lực tư vấn, đánh giá khi
thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bị giải thể, phá sản hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật
hiện hành;
b) Không bảo đảm duy trì bộ máy tổ chức và năng lực đã được công bố
theo quy định;
c) Vi phạm mang tính lặp lại có ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc tuân thủ
các quy định tại Thông tư này, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, các yêu
cầu đối với tổ chức tư vấn, chứng nhận và quy trình tư vấn, đánh giá đã quy định;
d) Sử dụng thông tin giả mạo, sai sự thật để công bố năng lực tư vấn, đánh giá;
đ) Giả mạo hồ sơ, tài liệu tư vấn, đánh giá;
e) Không tuân thủ các yêu cầu, quy định về kiểm tra, thanh tra của cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền;
g) Theo đề nghị của tổ chức, cá nhân.
2. Tổ chức, cá nhân bị hủy bỏ Bản công bố năng lực thuộc một trong các
trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều này chỉ được công bố
lại năng lực tư vấn, đánh giá sau khi đã khắc phục đầy đủ vi phạm, đáp ứng quy
định tại Thông tư này và chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, hoàn trả chi phí
cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng theo quy định của pháp luật.”.
13. Sửa đổi, bổ sung Điều 24 như sau:
“Điều 24. Năng lực của cơ sở đào tạo
1. Được thành lập theo quy định của pháp luật, có chức năng đào tạo;
2. Có kế hoạch đào tạo; giáo trình đào tạo đã được Người đứng đầu cơ sở
đào tạo phê duyệt và phù hợp với quy định tại Điều 29 và Điều 30 Thông tư số
26/2014/TT-BKHCN;
3. Áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN
ISO 9001 đối với phạm vi đào tạo;
4. Có đủ số lượng giảng viên theo kế hoạch đào tạo đã được phê duyệt, có
năng lực như sau:
a) Có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên;
b) Có chứng chỉ đào tạo về quản lý hành chính nhà nước chương trình tương
đương ngạch chuyên viên trở lên hoặc chương trình do Bộ Khoa học và Công
nghệ quy định hoặc đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành hành chính tại Học viện
Hành chính Quốc gia;
c) Ngoài các năng lực quy định tại điểm a, b khoản này, giảng viên đào tạo
về tư vấn Hệ thống quản lý chất lượng có tổng thâm niên công tác từ 05 năm trở
lên (kể từ thời điểm tốt nghiệp đại học) và có kinh nghiệm tư vấn xây dựng Hệ
thống quản lý chất lượng (đã tham gia tư vấn chính cho ít nhất 10 cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng và đã được chứng
nhận, công bố); giảng viên đào tạo về đánh giá Hệ thống quản lý chất lượng có
tổng thâm niên công tác từ 07 năm trở lên và có kinh nghiệm đánh giá Hệ thống
quản lý chất lượng (đã thực hiện đánh giá Hệ thống quản lý chất lượng với tư cách
là trưởng đoàn đánh giá cho ít nhất 20 cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp).”.
14. Sửa đổi, bổ sung Điều 25 như sau:
“Điều 25. Hồ sơ công bố năng lực đào tạo
Cơ sở đào tạo có nhu cầu đào tạo về tư vấn, đánh giá Hệ thống quản lý chất
lượng cho chuyên gia tư vấn, chuyên gia đánh giá, lập 01 bộ hồ sơ gửi đến cơ
quan được giao tiếp nhận hồ sơ tại tỉnh, thành phố nơi cơ sở đào tạo đặt trụ sở
chính thông qua một trong các cách thức sau: trực tiếp tại Bộ phận Một cửa hoặc
Trung tâm phục vụ hành chính công hoặc thông qua dịch vụ bưu chính hoặc trực
tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia. Hồ sơ gồm:
1. Bản công bố năng lực đào tạo theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm
theo Thông tư này.
2. Tài liệu về việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn
quốc gia TCVN ISO 9001 đối với phạm vi đào tạo.
3. Kế hoạch đào tạo và 01 bộ giáo trình đào tạo được biên soạn phù hợp với
quy định tại Điều 29 hoặc Điều 30 Thông tư này, đã được Người đứng đầu cơ sở
đào tạo phê duyệt.”.
15. Sửa đổi, bổ sung Điều 27 như sau:
“Điều 27. Xử lý hồ sơ công bố năng lực đào tạo
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ công bố hợp
lệ, cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ chịu trách nhiệm ghi nhận việc tiếp nhận hồ
sơ công bố năng lực trên Bản công bố năng lực của cơ sở đào tạo; trường hợp hồ
sơ được nộp, tiếp nhận, xử lý trên môi trường điện tử thì việc ghi nhận được thực
hiện bằng hình thức điện tử trên hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý hồ sơ hoặc
trên bản điện tử của Bản công bố năng lực. Trường hợp không ghi nhận, cơ sở
đào tạo được thông báo lý do bằng văn bản.”.
16. Sửa đổi, bổ sung Điều 28 như sau:
“Điều 28. Điều chỉnh Bản công bố năng lực đào tạo
Việc điều chỉnh nội dung của Bản công bố năng lực đào tạo áp dụng trong
trường hợp cơ sở đào tạo thay đổi tên, địa chỉ liên lạc, được thực hiện như sau:
1. Cơ sở đào tạo lập Bản công bố năng lực theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban
hành kèm theo Thông tư này, gửi đến cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ tại tỉnh,
thành phố thông qua một trong các cách thức sau: trực tiếp tại Bộ phận Một cửa
hoặc Trung tâm phục vụ hành chính công hoặc thông qua dịch vụ bưu chính hoặc
trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Bản công bố năng
lực hợp lệ, cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ chịu trách nhiệm ghi nhận việc tiếp
nhận hồ sơ công bố năng lực trên Bản công bố năng lực của cơ sở đào tạo; trường
hợp hồ sơ được nộp, tiếp nhận, xử lý trên môi trường điện tử thì việc ghi nhận
được thực hiện bằng hình thức điện tử trên hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý hồ
sơ hoặc trên bản điện tử của Bản công bố năng lực. Trường hợp không ghi nhận,
cơ sở đào tạo được thông báo lý do bằng văn bản.”.
17. Sửa đổi, bổ sung Điều 31 như sau:
“Điều 31. Quyền và nghĩa vụ của cơ sở đào tạo
1. Được tổ chức các khoá đào tạo về tư vấn, đánh giá Hệ thống quản lý chất
lượng, cấp chứng chỉ đào tạo theo Bản công bố năng lực đào tạo đã được ghi nhận.
2. Được thu chi phí đào tạo.
3. Tuân thủ chương trình đào tạo, nội dung đào tạo đã công bố và các quy
định về đào tạo theo quy định của pháp luật.
4. Sử dụng đúng đội ngũ giảng viên theo hồ sơ công bố.
5. Lưu giữ đầy đủ hồ sơ đào tạo theo quy định của pháp luật.
6. Báo cáo kết quả đào tạo từng khoá trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu
chuẩn, đo lường, chất lượng. Trường hợp có thay đổi về cơ cấu tổ chức, giảng
viên, trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ sở đào tạo có trách nhiệm thông báo về
cơ quan tiếp nhận hồ sơ công bố năng lực đào tạo để theo dõi, quản lý.”.
18. Sửa đổi, bổ sung Điều 32 như sau:
“Điều 32. Hủy bỏ Bản công bố năng lực đào tạo
1. Cơ sở đào tạo bị hủy bỏ Bản công bố năng lực khi thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Bị giải thể, phá sản hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật
hiện hành;
b) Không bảo đảm duy trì bộ máy tổ chức và năng lực đã được công bố
theo quy định;
c) Vi phạm mang tính lặp lại có ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc tuân thủ
các quy định tại Thông tư này, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, các yêu
cầu đối với cơ sở đào tạo và quy trình cơ sở đào tạo đã quy định;
d) Sử dụng thông tin giả mạo, sai sự thật để công bố năng lực đào tạo;
đ) Giả mạo hồ sơ, tài liệu đào tạo;
e) Không tuân thủ các yêu cầu, quy định về kiểm tra, thanh tra của cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền;
g) Theo đề nghị của cơ sở đào tạo.
2. Cơ sở đào tạo bị hủy bỏ Bản công bố năng lực thuộc một trong các trường
hợp quy định tại điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều này chỉ được công bố lại năng
lực đào tạo sau khi đã khắc phục đầy đủ vi phạm, đáp ứng quy định tại Thông tư
này và chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, hoàn trả chi phí cho tổ chức, cá nhân
bị ảnh hưởng theo quy định của pháp luật.”.
19. Sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 4 Điều 41 như sau:
“2. Quyết định việc thuê hoặc không thuê tư vấn để hướng dẫn xây dựng
Hệ thống quản lý chất lượng theo các nội dung công việc quy định tại khoản 1
Điều 7 Thông tư này. Trường hợp thuê tư vấn, cơ quan phải lựa chọn tổ chức tư
vấn, chuyên gia tư vấn độc lập đã công bố năng lực tư vấn và được ghi nhận;
4. Thường xuyên kiểm tra hiệu lực Bản công bố năng lực tư vấn của các tổ
chức tư vấn, chuyên gia tư vấn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường,
chất lượng trong suốt quá trình tư vấn tại cơ quan;”.
20. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 42 như sau:
“2. Thường xuyên kiểm tra hiệu lực Bản công bố năng lực của các tổ chức
chứng nhận trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trong
trường hợp Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thuê tổ chức chứng nhận phối
hợp kiểm tra hoạt động xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý
chất lượng tại các cơ quan thuộc Bộ, ngành, địa phương;”.
21. Sửa đổi, bổ sung Điều 43 như sau:
“Điều 43. Nhiệm vụ của Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia
và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
1. Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia là cơ quan đầu mối
triển khai thực hiện Thông tư này, có nhiệm vụ quy định chi tiết các nội dung thực
hiện trong quá trình tư vấn tại cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà
nước.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố giao cơ quan chuyên môn trực thuộc
thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Quản lý, hướng dẫn và thực hiện tiếp nhận hồ sơ, ghi nhận, hủy bỏ Bản
công bố năng lực tư vấn, đánh giá của tổ chức tư vấn, chuyên gia tư vấn độc lập,
tổ chức chứng nhận, Bản công bố năng lực đào tạo của cơ sở đào tạo theo quy
định tại Thông tư này;
b) Công bố công khai, cập nhật thông tin về các tổ chức tư vấn, chuyên gia
tư vấn độc lập, tổ chức chứng nhận, cơ sở đào tạo đã được ghi nhận, hủy bỏ Bản
công bố năng lực trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng;
c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện kiểm tra
các hoạt động tư vấn, hoạt động đánh giá Hệ thống quản lý chất lượng của các tổ
chức tư vấn, chuyên gia tư vấn độc lập, tổ chức chứng nhận; hoạt động đào tạo về
tư vấn, đánh giá Hệ thống quản lý chất lượng cho chuyên gia tư vấn, chuyên gia
đánh giá của cơ sở đào tạo và xử lý theo thẩm quyền đối với các vi phạm theo quy
định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan.”.