Điều 4. Tiếp nhận lệnh, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú
1. Ngay sau khi nhận được lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của người ra lệnh,
Trưởng Công an cấp xã phân công cán bộ để quản lý, theo dõi và kiểm tra, xác
minh. Trường hợp người bị cấm đi khỏi nơi cư trú không cư trú trên địa bàn cấp
xã thì thông báo bằng văn bản ngay cho người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú
biết để xử lý.
2. Khi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú đến trình diện, Trưởng Công an cấp
xã chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Kiểm tra, đối chiếu thông tin trong lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và giấy tờ
cá nhân của họ hoặc thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, VNeID.
Trường hợp phát hiện có nhầm lẫn, sai sót thì thông báo bằng văn bản ngay cho
người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú biết để xử lý;
b) Phổ biến, giải thích các quy định về việc điểm danh, kiểm diện, triệu tập
và các quy định khác có liên quan; thông báo cho họ biết người chịu trách nhiệm
quản lý, theo dõi trong thời gian bị cấm đi khỏi nơi cư trú;
c) Lập biên bản về việc người bị cấm đi khỏi nơi cư trú đến trình diện; yêu
cầu họ viết giấy cam đoan chấp hành nghĩa vụ theo quy định. Trường hợp người
bị cấm đi khỏi nơi cư trú là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, người có
nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất ảnh hưởng trực tiếp tới việc làm giấy
cam đoan thì giấy cam đoan phải có xác nhận của người đại diện;
d) Lập hồ sơ quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú; ghi chép
vào sổ và cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, phần mềm
nghiệp vụ quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú;
đ) Việc tiếp nhận người bị cấm đi khỏi nơi cư trú đến trình diện được thực
hiện tất cả các ngày trong tuần, kể cả ngày nghỉ, lễ, Tết.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ khi người bị cấm đi khỏi nơi cư trú đến
trình diện, cán bộ được phân công quản lý, theo dõi người bị cấm đi khỏi nơi cư
trú phải xây dựng kế hoạch quản lý, theo dõi, báo cáo lãnh đạo, chỉ huy duyệt.
Nội dung kế hoạch phải cụ thể hóa các biện pháp quản lý, theo dõi theo quy định
tại Điều 6 Thông tư này.