Điều 7. Sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản, điểm của Thông tư số
79/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Công an
quy định về cấp, thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cơ giới, xe máy
chuyên dùng được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 13/2025/TT-BCA và
Thông tư số 51/2025/TT-BCA
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 3 như sau:
“6. Việc nhận kết quả đăng ký xe được thực hiện theo nhu cầu của chủ
xe, bao gồm lựa chọn Chứng nhận đăng ký xe bản vật lý hoặc nhận dữ liệu điện
tử Chứng nhận đăng ký xe. Chủ xe nhận kết quả đăng ký xe thông qua dịch vụ
bưu chính hoặc tại cơ quan đăng ký xe (đối với Chứng nhận đăng ký xe bản vật
lý) hoặc thông qua cổng dịch vụ công, ứng dụng định danh quốc gia (VNeID),
ứng dụng giao thông trên thiết bị số dành cho công dân do Bộ Công an quản
lý, vận hành VNeTraffic (đối với dữ liệu điện tử Chứng nhận đăng ký xe).”.
2. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau:
“Điều 7. Thời hạn giải quyết đăng ký xe
1. Cấp chứng nhận đăng ký xe
a) Cấp mới chứng nhận đăng ký xe, cấp chứng nhận đăng ký xe trong
trường hợp thay đổi chủ xe, đổi chứng nhận đăng ký xe: Không quá 02 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;
b) Cấp lại chứng nhận đăng ký xe: Không quá 02 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; chứng nhận đăng ký xe cấp lại phải thể hiện rõ lần
cấp lại.
2. Cấp biển số xe
a) Cấp mới biển số xe: cấp ngay sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ;
b) Cấp mới biển số xe trúng đấu giá, đổi biển số xe, cấp biển số xe định
danh: Không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;
c) Cấp lại biển số xe: Không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ
hồ sơ hợp lệ.
3. Cấp chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe
a) Trường hợp thực hiện dịch vụ công trực tuyến toàn trình: Không quá
08 giờ làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ;
b) Trường hợp thực hiện dịch vụ công trực tuyến một phần hoặc làm thủ
tục trực tiếp tại cơ quan đăng ký xe: Không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận đủ hồ sơ hợp lệ;
c) Cấp chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe trong trường
hợp bị mất: Không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;
d) Cấp bản sao chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe:
Không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
4. Cấp chứng nhận đăng ký xe tạm thời
a) Trường hợp thực hiện dịch vụ công trực tuyến toàn trình: Không quá
08 giờ làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ;
b) Trường hợp thực hiện dịch vụ công trực tuyến một phần hoặc làm thủ
tục trực tiếp tại cơ quan đăng ký xe: 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ
sơ hợp lệ.
5. Đối với các trường hợp phải nộp lệ phí đăng ký xe thì thời hạn giải
quyết đăng ký xe được tính từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ và chủ xe hoàn thành
việc nộp lệ phí đăng ký xe.”.
3. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 14 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1:
“a) Chủ xe thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư này; lựa chọn
hình thức nhận kết quả theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Thông tư này;”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2:
“a) Chủ xe kê khai giấy khai đăng ký xe theo quy định tại Điều 9 Thông
tư này, nhận mã hồ sơ đăng ký xe trực tuyến, lịch hẹn giải quyết hồ sơ do cổng
dịch vụ công thông báo qua tin nhắn điện thoại hoặc qua địa chỉ thư điện tử để
làm thủ tục đăng ký xe; đưa xe đến cơ quan đăng ký xe để kiểm tra, cung cấp
mã hồ sơ đăng ký xe và nộp các giấy tờ quy định tại các điều 10, 11, 12 và 13
Thông tư này cho cơ quan đăng ký xe; lựa chọn hình thức nhận kết quả theo
quy định tại khoản 6 Điều 3 Thông tư này;”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 3:
“3. Chủ xe kê khai giấy khai đăng ký xe theo quy định tại Điều 9 Thông
tư này, đưa xe đến cơ quan đăng ký xe để kiểm tra và nộp các giấy tờ quy định
tại các điều 10, 11, 12 và 13 Thông tư này và thực hiện theo quy định tại điểm
b, c, d khoản 2 Điều này; lựa chọn hình thức nhận kết quả theo quy định tại
khoản 6 Điều 3 Thông tư này.”.
4. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 16 như sau:
“1. Thành phần hồ sơ thu hồi gồm:
a) Giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe;
b) Giấy tờ của chủ xe theo quy định tại Điều 10 Thông tư này;
c) 02 bản chà số máy, số khung của xe, trừ trường hợp thực hiện thủ tục
thu hồi trên môi trường điện tử và cấp chứng nhận thu hồi điện tử thì không
yêu cầu bản chà số máy, số khung của xe;
d) Bản sao chứng từ chuyển quyền sở hữu xe theo quy định;
đ) Chứng nhận đăng ký xe, biển số xe; trường hợp mất chứng nhận đăng
ký xe hoặc mất biển số xe thì phải ghi rõ lý do trong giấy khai thu hồi chứng
nhận đăng ký xe, biển số xe.
Trường hợp thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử, cơ quan đăng ký xe
cấp chứng nhận thu hồi điện tử, ký số và trả kết quả trên cổng dịch vụ công, ứng
dụng định danh quốc gia (VNeID) để chủ xe khai thác, sử dụng. Chủ xe được lựa
chọn hình thức nhận kết quả theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Thông tư này.
Trong thời gian chờ nhận kết quả thu hồi, chủ xe được giữ lại biển số xe
để sử dụng và phải nộp lại khi nhận chứng nhận thu hồi; trường hợp chủ xe
không nộp lại biển số xe thì cơ quan đăng ký xe hủy kết quả và yêu cầu chủ xe
làm lại thủ tục thu hồi trong trường hợp mất biển số xe theo quy định.”.
5. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 17 như sau:
“c) Nhận giấy hẹn trả kết quả, nộp lệ phí đăng ký xe và nhận biển số xe
(trường hợp được cấp biển số xe theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 14
Thông tư này); lựa chọn hình thức nhận kết quả theo quy định tại khoản 6 Điều
3 Thông tư này;”.
6. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 20 như sau:
“2. Sau khi kiểm tra hồ sơ xe bảo đảm hợp lệ, cơ quan đăng ký xe thực
hiện đổi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định; chủ xe được lựa
chọn hình thức nhận kết quả theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Thông tư này;
Trường hợp đổi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe giữ nguyên biển số định
danh; đối với xe đã đăng ký biển 3 số hoặc biển 4 số thì cấp sang biển số định
danh theo quy định (thu lại chứng nhận đăng ký xe, biển 3 số hoặc biển 4 số đó);
Trường hợp đổi biển số xe từ nền màu trắng, chữ và số màu đen sang
biển số xe nền màu vàng, chữ và số màu đen hoặc từ nền màu vàng, chữ và số
màu đen sang biển số xe nền màu trắng, chữ và số màu đen thì cấp biển số định
danh mới (trường hợp chưa có biển số xe định danh) hoặc cấp lại biển số định
danh (trường hợp đã có biển số xe định danh).”.
7. Sửa đổi, bổ sung Điều 21 như sau:
“Điều 21. Thủ tục cấp lại chứng nhận đăng ký xe, biển số xe
1. Chủ xe thực hiện dịch vụ công trực tuyến toàn trình đối với trường
hợp cấp lại chứng nhận đăng ký xe, cấp lại biển số xe (trừ trường hợp xe đã
đăng ký biển 3 số hoặc biển 4 số):
a) Chủ xe kê khai giấy khai đăng ký xe theo quy định tại Điều 9 Thông
tư này, nộp bản chà số máy, số khung của xe qua dịch vụ bưu chính công ích
cho cơ quan đăng ký xe; lựa chọn hình thức nhận kết quả đăng ký xe;
b) Sau khi kiểm tra hồ sơ xe bảo đảm hợp lệ, cơ quan đăng ký xe gửi
thông báo cho chủ xe để nộp lệ phí đăng ký xe, phí dịch vụ bưu chính công ích
trên cổng dịch vụ công để trả kết quả đăng ký xe theo quy định;
c) Chủ xe nhận kết quả theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Thông tư này.
2. Chủ xe thực hiện dịch vụ công trực tuyến một phần hoặc làm thủ tục
trực tiếp tại cơ quan đăng ký xe:
a) Chủ xe kê khai giấy khai đăng ký xe theo quy định tại Điều 9 Thông
tư này, nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 19 Thông tư này
và nộp lệ phí theo quy định; lựa chọn hình thức nhận kết quả đăng ký xe;
b) Sau khi kiểm tra hồ sơ xe bảo đảm hợp lệ, cơ quan đăng ký xe thực
hiện cấp lại chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định; chứng nhận đăng
ký xe cấp lại phải thể hiện rõ lần cấp lại; chủ xe nhận kết quả theo quy định tại
khoản 6 Điều 3 Thông tư này.
3. Trường hợp cấp lại chứng nhận đăng ký xe, biển số xe giữ nguyên biển số
định danh; đối với xe đã đăng ký biển 3 số hoặc biển 4 số thì cấp sang biển số định
danh theo quy định (thu lại chứng nhận đăng ký xe, biển 3 số hoặc biển 4 số đó).
Chứng nhận đăng ký xe cấp lại trong các trường hợp này phải thể hiện
rõ lần cấp lại theo quy định.”.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 26 như sau:
“Điều 26. Thủ tục thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe
1. Thực hiện thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe bằng dịch vụ
công trực tuyến toàn trình đối với xe cơ giới hết niên hạn sử dụng, hư hỏng
không sử dụng được; xe bị thải bỏ, bị mất không tìm được và chủ xe đề nghị
thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe:
a) Chủ xe kê khai giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe
trên cổng dịch vụ công và nộp chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cho cơ quan
đăng ký xe thông qua dịch vụ bưu chính;
b) Sau khi tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ bảo đảm hợp lệ, cơ quan đăng ký xe
cấp chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe dưới dạng điện tử,
ký số và trả kết quả cho chủ xe trên cổng dịch vụ công; trường hợp cấp chứng
nhận thu hồi điện tử thì không yêu cầu bản chà số máy, số khung của xe.
2. Thực hiện thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe bằng dịch vụ
công trực tuyến một phần hoặc làm thủ tục trực tiếp tại cơ quan đăng ký xe:
a) Chủ xe kê khai giấy khai thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe trên
cổng dịch vụ công hoặc kê khai trực tiếp tại cơ quan đăng ký xe, nộp hồ sơ thu hồi
theo quy định tại Điều 25 Thông tư này và nhận giấy hẹn trả kết quả theo quy định;
b) Sau khi tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ bảo đảm hợp lệ, cơ quan đăng ký xe
cấp 02 bản chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định
(01 bản trả cho chủ xe; 01 bản lưu hồ sơ xe). Đối với xe tạm nhập, tái xuất của
các đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao cấp 03 bản chứng
nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe (02 bản trả cho chủ xe để nộp cho
cơ quan hải quan và cơ quan đăng ký xe, 01 bản lưu hồ sơ xe).
Trường hợp thu hồi theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 6 Điều 39 Luật
Trật tự, an toàn giao thông đường bộ thì chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký
xe, biển số xe có dán bản chà số máy, số khung và đóng dấu giáp lai của cơ quan
đăng ký xe trên bản chà số máy, số khung xe; trường hợp cấp chứng nhận thu hồi
điện tử thì không yêu cầu bản chà số máy, số khung của xe.
3. Việc cấp chứng nhận thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe dưới
dạng điện tử mà không yêu cầu bản chà số máy, số khung của xe được thực hiện
khi cơ quan đăng ký xe đã hoàn thành việc số hóa, lưu trữ và quản lý dữ liệu số
máy, số khung của xe trên hệ thống đăng ký, quản lý xe, bảo đảm khả năng tra
cứu, đối chiếu và xác thực thông tin theo quy định. Trường hợp chưa đáp ứng điều
kiện này thì thực hiện theo quy định về hồ sơ, trong đó có bản chà số máy, số
khung của xe.”.